Tan rã

          Khi ở trên một đoàn tàu cao tốc mà mình đi về toa cuối, tưởng mình tụt lại, giật lùi trong di chuyển nhưng thực ra vẫn tiến về phía trước. Rồi, mình đi lên toa đầu cùng chiều hành trình, cảm nhận dường như di chuyển nhanh hơn thực tại? Nhưng thực ra, không thể vượt tốc độ của đoàn tàu. Nếu vượt, thì mình sẽ bay ra khỏi đoàn tàu, rồi rơi xuống, đâu đó. Mà này, có những khoảng không gian mình vượt qua nó mà không cần phải bước, đúng không? Hoàng tự cật vấn mình vậy. Anh nhún chân nhảy lên khi đoàn tàu bắt đầu tăng tốc về phía Bắc. Trong một thoáng chốc khi hai bàn chân rời khỏi sàn tàu, thì dường như anh tách bỏ khỏi thực tại, giải phóng mọi thứ và tự do hoàn toàn. Tự do và cô đơn, đấy là những thứ tuyệt vời nhất có được do bề trên ban tặng, chúng quý báu và thật đáng sợ. Phải không, Hoàng?

          Hoàng nhấn cò, phóng quả đạn B40 nhắm vào chiếc tàu sắt đen sì phía bên phải, khoảng cách chừng hơn trăm mét. “Định bắt sống à? Mày chết!” Hoàng đã nghiến răng trước khi nhấn cò. Mục tiêu to như quả núi, nhắm mắt bắn cũng trúng… Chớp lửa bùng lên nơi thân tàu, sát mớn nước, mọi người đều nhìn thấy hàng chữ tiếng Anh: “USA”, “2048” viết trên thân tàu. “Trúng rồi!” Sau đó, một cơn sóng lớn bất ngờ từ phía mục tiêu dội lại, xô chiếc thuyền gỗ nhỏ xíu xiu của Hoàng suýt lật chìm. Chú Nam phải hô mọi người ghìm tay chèo, cự lại… Vậy nhưng chiếc thuyền gỗ của Hoàng vẫn bị sóng xô đi dường như rất xa.

–  Tiếp tục quan sát mục tiêu! Hoàng, chuẩn bị bắn tiếp, nghe chưa?

–  Dạ! Cháu nghe rồi

–  Lắp đạn xong chưa?

–  Dạ, chờ cháu chút!

–  Mau lên, kẻo nó chạy mất!

–  Dạ, xong rồi!

–  Được, bắn đi.

          Hoàng bắn tiếp, quả đạn vút vào hư không. Hoàng nhìn theo đường bay của nó, mất hút luôn, nó không trúng vào đâu cả. Mà chiếc tàu cũng đâu mất rồi, biến mất, nhanh thế. Dường như làn sương mờ không dày lắm, đủ để cho tầm nhìn được chừng ba trăm mét, đã nuốt chửng quả đạn B40 của Hoàng. Và nuốt chửng luôn chiếc tuần dương hạm “USA” trọng tải chắc phải đến vài ngàn tấn… “Thôi, nó chạy rồi. Anh em xác định phương hướng, nhắm vô đảo Cồn Cỏ mà chèo!”

          Vậy là chèo. Tất cả năm cảm tử quân trên chiếc thuyền gỗ mỏng manh như chiếc lá tre, mà trong đó, Hoàng trẻ nhất mới mười bảy tuổi, đã chèo rất lâu, chếch xiên lưng sóng, nhắm về hướng Đông Bắc. Thuyền cảm tử chở hơn một tấn hàng gồm đạn dược, bông băng, thuốc men y tế và một túi thư từ, sách, báo Quân đội nhân dân, tạp chí Văn nghệ quân đội ra cho bộ đội Cồn Cỏ đang chiến đấu giữ đảo, đánh nhau với tàu chiến, máy bay Mỹ… Mà hay thật, chỉ mới tuần trước, Hoàng còn lang thang trong một cánh rừng tây Nghệ An, vùng Đông Hiếu, Nghĩa Đàn, nhưng giờ đây đã – trở – thành – cảm – tử – quân!

       Thực ra, Hoàng bất đắc dĩ trở thành cảm tử quân, chứ trên thuyền này chỉ có bốn người là chú Nam, anh Hậu, anh Long, anh Trường mới là cảm tử quân chính thức, được ghi vào sổ sách của chi bộ, được làm lễ truy điệu sống. Còn Hoàng, là cảm tử quân “chui”, không chính thức. Giả sử bây giờ Hoàng hi sinh, thì cũng không ai thừa nhận, vì anh không có tên trong danh sách. Từ nơi sơ tán K10 ở Nghĩa Đàn, Hoàng trốn về quê Cửa Tùng. Hoàng không chịu được cái nhìn bà chủ nhà mà Hoàng và mấy đứa được sắp xếp vào ở trọ, nhìn Hoàng sao đó khiến Hoàng sờ sợ bất an. Bà Việt kiều mới ở Thái Lan về nước, sao thế nhỉ? Chiến tranh ác liệt thế!

–  Bà về làm gì, chiến tranh còn rất dài?

–  Tôi về vì một lý do đặc biệt, Hoàng, em biết không?

–  Dạ, không biết, thưa bà?

–  Ấy, đừng gọi tôi là bà, gọi là mẹ, tuy rằng tôi…

–  Dạ vâng, nhưng Hoàng cũng thế, sẽ về lại quê nhà Vĩnh Linh, Quảng Trị… Về chiến đấu.

–  Đã đủ mười tám tuổi đâu mà chiến đấu, ai cho?

–  Chưa mười tám nhưng cao mét bảy hai rồi. Đi bộ đội được rồi. Nhưng bà… sao… Hoàng phải gọi là mẹ?

–  Quy ước thôi mà, Hoàng!

        Hoàng viết thư để lại cho thầy giáo chủ nhiệm, “Em về lại Vĩnh Linh để tham gia chiến đấu với các bác, các chú, các anh dân quân bám trụ kiên cường”. Thực ra anh muốn trở về tìm Sương. Chỉ ở bên Sương, anh mới thấy yên lòng… Chiều muộn, đến Hồ Xá, rời khỏi chiếc xe tải quân sự cho đi nhờ, Hoàng cuốc bộ theo đường Cáp Lài, xuyên qua Vĩnh Nam, Vĩnh Hiền, Rú Lịnh, Vịnh Mốc rồi sà xuống bãi biển Cửa Tùng, chui luôn vào lòng một con thuyền gỗ đang nằm ơ hờ trên bãi mà ngủ lấy lại sức… Sương hỏi anh:

–  Về mà làm gì?

–   Hoàng về với Sương, không được à?

–   Không, Hoàng đi đi, ra Hà Nội đi. Ước mơ của Hoàng là ra Hà Nội cơ mà?

–  Không Sương à, đó là ước mơ của cả Hoàng và Sương. Một mình Hoàng không làm đâu…

–  Sao lại thế, Hoàng đi đi,

–  Hoàng thôi ước mơ Hà Nội rồi, chả cần nữa… Hoàng bây giờ về Cửa Tùng thôi, sang năm sẽ đi bộ đội, sau này Hoàng sẽ vô Sài Gòn luôn, Sương à…”

        Ánh hỏa châu bên kia sông Bến Hải, bờ nam vĩ tuyến 17 hắt lên nền trời chập chùng, thoảng nghe tiếng thét xung phong phía cao điểm 31. Đấy là một đồi cát, cây cỏ lúp xúp, cách Cửa Việt dăm cây số về phía Bắc. Sau ngày hòa bình Hoàng có qua đó, thấy vết tích nhiều trận đánh ác liệt, còn vài đốt xích xe tăng, dấu tích các công sự đơn sơ tre gỗ… Và chân hương cắm rất nhiều… Còn bây giờ, Hoàng thoảng nghe tiếng xe tăng. Tăng Mỹ, tất nhiên! Tiếng súng các cỡ. Tiếng nổ đại pháo của cả hai bên, từ Cồn Tiên bắn ra, từ nông trường Quyết Thắng bắn vô. Tiếng người kêu “Đau quá mẹ ơi, mẹ ơi!”, “Cho tôi chết ngay đi, cho tôi mũi tiêm thuốc độc tôi chết ngay đau quá không chịu nổi các đồng chí ơi! Hu hu hu! Oai oai oai! Đau…!!!”  “Đại đội trưởng ơi, chính trị viên ơi cho em chết, em đau quá!” Có tiếng thều thào: Em mất cả hai chân rồi hả các anh ơi? Thật sao, mất cả hai chân rồi em sống làm gì nữa, các anh ơi! ĐM, sao đ nhìn thấy gì cả? Hả, mắt tao đâu? Rồi, tay tao? ĐM, đánh nhau kiểu gì trận nào cũng chết nhiều dữ vậy, há? Bọn thủy quân lục chiến nhát như tườu! Đánh kiểu gì cứ dúi đầu trong công sự. Mẹ, hình như có thằng phóng viên hay sao? Máy ảnh nó đây! Cái gì? Nhà báo à? Xem có tài liệu ghi chép gì không? Thu ngay!

       Sẽ là một đêm chiến tranh điển hình với Hoàng giờ đây đã yên giấc nồng trong lòng thuyền êm ái được lót bởi tấm bạt xanh quân sự không thấm nước. Hoàng đâu biết đó là một chiếc thuyền của đội quân cảm tử chở hàng tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ. Khi Hoàng cảm nhận được sự lắc lư, chồm lên dạt xuống, lử đử chui ra từ dưới tấm bạt thì thuyền đã ở giữa biển. Chú Nam trố mắt:

 –  Hoàng! Sao mày ở đây?

–  Cháu có biết gì đâu

–  “Thôi chết cha rồi cháu ơi, giờ không quay vào được nữa rồi… Định mệnh của cháu rồi, cháu ơi. Chuyến này mười phần chết chín… Tội nghiệp cháu tao!”, Chú Nam nói với mọi người:

–  Hậu, Long, Trường! Thằng Hoàng cháu tao tình cờ có mặt trên thuyền, mà nó cũng mười bảy tuổi rồi, cho nên nó… sống cùng sống chết cùng chết. Hoàng mày bắn được súng gì?

–  Dạ súng chi cũng bắn được ạ

–  B40 bắn được không?

–  Dạ chưa bắn bao giờ nhưng cháu biết cách bắn ạ…

   Hoàng đã được “tham gia chiến đấu” như ý nguyện của anh một cách tự nhiên như thế!

 –  Anh Trường ơi, Sương bây giờ ở đâu? Anh có biết không?

–  Suỵt. Im! Chớ nói ra, Hoàng

–  Sợ chi anh, giữa biển rồi, toàn anh em chú bác trên thuyền, anh sợ chi nữa.

–  Anh không biết nó ở mô, nhưng anh tin nó còn sống…

–  Liệu có gặp lại được Sương nữa không anh?

–  Không biết, nó bây giờ đã ở bên kia…

       Anh ấy biết hai đứa Hoàng và Sương cảm mến nhau thật nhiều, một tình bạn thật đặc biệt. Đúng cái đêm Hoàng lên xe đi sơ tán thì Sương cũng mất tích. Chi bộ nói rằng cô ấy trẻ người non dạ, bị dụ dỗ vượt tuyến sang bờ Nam. Mà đi với ai? Với chính thầy giáo của nó. Thầy người miền Nam ra tập kết năm năm tư, chả biết đã có vợ con trong đó hay chưa? Nói chi thì nói, thầy như rứa là không được. Bắt được, là kỷ luật, xử tử ngay không cần tòa án. Phản bội! Còn con Sương, tội nghiệp nó, hai anh em mẹ bỏ đi từ nhỏ. Nó lẽ ra phải ra miền Bắc mà học hành, đào tạo thành kỹ sư, bác sỹ chứ. Qua bên đó, sống thế nào, không khéo làm me Mỹ, nhục. Hay nó đi tìm mẹ?

     Đêm dài quá đỗi, mãi mà không thấy sáng. Hoàng nằm, ngước mắt lên trời và bâng quơ tìm chòm sao Bắc Đẩu. Trên thuyền mọi người đã ngủ. Nào tìm xem, chòm sao Bắc Đẩu ở đâu. Đây rồi, Hoàng đã nhìn thấy chòm thất tinh, bảy ngôi sao tạo thành hình như cái gáo nước. Kẻ đường thẳng dài gấp năm lần khoảng cách hai ngôi sao Merak và Dubhe, Hoàng dễ dàng tìm thấy sao Bắc Cực, hướng chính Bắc. Nhưng gì thế này? Tại đó, nơi Thiên cực, hôm nay có ba ngôi sao sáng như Bắc Cực quay tròn quanh nhau theo chiều kim đồng hồ. Ngôi nào là sao Bắc Cực? Chúng quay quay quay tròn trịa, đều đặn, tốc độ bằng kim giây đồng hồ, ba trăm sáu mươi độ trong sáu mươi giây. Hoàng không thể hiểu nổi, và trong khi anh ôm khẩu B40 thiếp đi, anh bằng lòng với mình, cả ba đều là Bắc Cực… Những ngôi sao ấy chiếu xuống mặt nước biển lặng tờ ba luồng sáng xanh dịu nhẹ. Thuyền đi vào luồng sáng đó, như trôi vào một sân khấu có ánh đèn chiếu đuổi, thuyền trôi đâu thì ánh sáng theo đó quấn quýt đuổi theo thú vị vô cùng. Hoàng nhìn thấy trên gương mặt mình, và trên gương mặt chú Nam, anh Trường đang nằm ngủ những hình ảnh kỳ lạ trôi chảy qua như đang được phát từ một máy chiếu hình… Có lúc, Hoàng nhìn thấy trên má anh Trường hình ảnh của Sương. Cô ấy áo quần rách bươm và đang chạy bời bời trên đồi cát lúp xúp cây tầm thấp… Sau ngày hòa bình, Hoàng mới biết đó là cao điểm 31, nơi đụng độ quyết liệt giữa quân giải phóng và lính thủy quân lục chiến Mỹ. Trận đánh cả trung đội 32 người thuộc tiểu đoàn 47 do đại úy Trần Văn Thời chỉ huy, chỉ còn một người sống sót. Xe tăng Mỹ ào lên nghiền nát tất cả. Công sự yếu, bộ đội Bắc Việt chỉ có ba khẩu B40, bắn hết đạn thì xe tăng xông lên, đè công sự sụm xuống, chết hết. Chỉ còn sót lại một người thoi thóp nhờ có thanh xà gồ gỗ phi lao gãy xuống chống nghiêng. Khi xe tăng M41 đè qua, xà gồ sụm xuống thì gặp rễ cây níu lại, tạo cho một khoảng trống sinh tồn. Người này chỉ bị đè gãy xương sườn thôi nhưng vẫn sống cho đến hôm sau. Khi đội cứu thương đến nghe tiếng rên khe khẽ, thì moi ra. Còn lại chết hết. Người này sau hòa bình về miền Bắc đi học đến tiến sỹ, làm giảng viên đại học. Hàng năm đến ngày giỗ trận ông thường về lại cao điểm 31. Ông ngồi. Ông ngồi. Ông ngồi. Rồi ông nằm, đúng nơi nửa thế kỷ trước ông bị xe tăng Mỹ đè qua… Tại sao chỉ huy tiểu đoàn 47 lại bố trí một cái chốt đơn lẻ toàn tay súng bộ binh giữa đồng không mông quạnh, cách vị trí chỉ huy tiểu đoàn bộ đến bảy cây số, quá xa. Lại ở trên hướng rồi sẽ có xe tăng địch hành tiến qua? Không ai dự báo được tình hình hay là có ý định chiến đấu gì khác? Ông tham mưu trưởng đâu, tiểu đoàn trưởng đâu, chỉ huy đánh đấm kiểu gì thế hả? Khi chốt bị nguy cơ tiêu diệt, các ông ở đâu, thông tin thế nào, lực lượng dự bị đâu? Mà cả ông trung đội trưởng đã hi sinh, ông cũng… Sao không cho anh em rút? Ở lại, đấy, là chết hết! Một năm nào đó đúng ngày giỗ trận, ông trở về đây thì gặp đại úy Trần Văn Thời bấy giờ tóc bạc phơ phất, quỳ gối trên cao điểm 31. Đại uý Thời áp mặt mình lên cát trắng bỏng rát giữa trưa hè… Khóc không thành tiếng. Lúc này, dù có mặt trời nhưng vẫn hiện lên ba ngôi sao Bắc Cực giữa bầu trời sáng quắc. Sáng đến nỗi ánh sáng trắng xanh của chúng hiển hiện rõ ràng trên cao điểm 31, chiếu đến tận cùng xương cốt những người lính còn sót lại.

       Dường như là sáng hôm sau, mọi người thức dậy, không thấy mặt trời. Chú Nam nói, kì lạ nhỉ, không xác định được đây là đâu, đảo Cồn Cỏ hướng nào. Hoàng ngước mắt nhìn trời, bây giờ không thấy ba ngôi sao Bắc Cực đâu cả. Anh Trường và các cảm tử quân giăng câu, bắt được một số cá nục cá trích, có cả con mực ống rất dài. Mọi người nhen lửa nấu cơm ăn. Dường như đã nhiều ngày trôi qua rồi mà họ không ăn uống gì cả, bằng chứng là râu tóc trên mặt mỗi người mọc ra rất nhiều. Cá nục, cá trích ăn rất ngon. Tuy nhiên với con mực ống thì khi cắt đôi, trong lòng nó chảy ra toàn máu tươi. Mọi người hoảng sợ, nhưng chú Nam nói ngay, không sao cả, con mực này nó ăn thủy sinh san hô đỏ, nên thế. Sợ thì thôi đừng ăn, vứt đi! Hoàng vứt con mực xuống biển, máu đỏ từ lòng con mực chảy ra loang cả một vạt biển.

 –  Chú Nam ơi, giờ chèo đi đâu?

–  Chà chà, chờ xem mặt trời có lên không, hay gió lên không, mới xác định được phương hướng.

        Hoàng và họ, các cảm tử quân đều không ước đoán được đã rất nhiều thời gian trôi qua… Một hôm, chú Nam nói với Hoàng, này, không hiểu sao tao thấy mình ngày càng khỏe Hoàng ạ. Đêm qua tao bị mộng tinh!

Tranh minh họa: Trần Minh Châu                                               

        Đoàn tàu chạy qua ga Vinh, ba trăm cây số nữa là đến Hà Nội. Tàu qua đền Cuông thì thấy trăng mọc lên nhờ nhờ phía biển. Hoàng ở trong toa, tắt đèn, nhìn qua cửa kính ngước lên trời thấy ba ngôi sao Bắc Cực xoay tròn bên nhau miệt mài. Cả ba ngôi sao cũng chạy theo đoàn tàu của Hoàng về phía Bắc. Nếu chạy mãi, sẽ đến lúc thấy ba ngôi sao Bắc Cực ngay trên chính giữa đầu mình. Không lên không lặn, sáng ngời chấp chới và cho đến hiện giờ các nhà thiên văn học vẫn khẳng định rằng sao Bắc Cực chỉ lệch so với Thiên cực không phẩy năm độ, tức là vẫn còn hữu dụng làm căn chuẩn hướng Bắc cho người lạc đường tìm phương hướng. Nhưng, mười hai ngàn năm nữa sẽ có ngôi sao Vega trong chòm Lyra thay thế sao Bắc Cực. Mà giờ đây có đến ba ngôi sao Bắc Cực, thì cần phải có ba ngôi sao Vega, chứ? Hoàng dò tìm bầu trời cố tìm cho được ba ngôi sao Vega nhưng vô ích. Chỉ có một thôi. Nó hiện giờ đang e ấp còn rất cách xa Thiên cực, nhưng nó đang trôi dần về Thiên cực, trong khi, Bắc Cực thì đang ngày càng rời xa đó. Mười hai ngàn năm nữa Vega sẽ đứng trên trục kéo dài của Trái đất, luôn đứng ở đó cho dù Trái đất có nghiêng ngả, lệch trục tâm bao nhiêu đi nữa. Khi đó, Bắc Cực ở đâu nhỉ? Hay là nó sẽ bùng phát và sụp đổ thành một hố đen? Khi đó, nhân loại có còn nhớ đến nó nữa hay không với một biểu tượng chân lý lưu truyền từ ngày xảy xa biến cố Bigbang? Hãy xây dựng một tượng đài tri ân Bắc Cực? Nhưng đặt tượng đài ấy ở đâu? Giữa bầu trời, trên mặt đất, hay giữa đại dương? Đặt ở quốc gia nào? Nga, Trung Quốc, Mỹ, hay Việt Nam? Hay lúc đó chả còn quốc gia nào nữa rồi!

         Tàu đang chạy với vận tốc 380km/h, sắp đến Hà Nội rồi. Hoàng đi về cuối toa tàu. Anh nhún mình nhảy lên. Nếu cứ mãi di chuyển với vận tốc này 380km/h, mười hai ngàn năm nữa anh sẽ đi tới đâu? Anh nhún mình nhảy lên lần nữa như một trò chơi thơ bé. Trong khoảng thời gian hai chân anh rời khỏi sàn tàu, trong hơn một giây đó, dường như anh bị tách bỏ khỏi thực tại, và tự anh làm chủ hoàn toàn bản thể của mình không hề phụ thuộc vào bất cứ cái gì, đoàn tàu, Sương, hay ai khác, kể cả bà Việt kiều ở Thái Lan về thăm quê Nghĩa Đàn vừa mới lên tàu ở ga Vinh, chung buồng với anh. Nhưng Hoàng được thừa kế lực quán tính, trong khi anh nhảy lên với cú nhảy đó, thì anh vẫn di chuyển về phía Bắc với tốc độ bằng tốc độ đoàn tàu 380km/h. “Chúng tôi xin thông báo, đoàn tàu cao tốc số hiệu “VN-2048” chỉ ít phút nữa sẽ đến ga Hà Nội, và chỉ dừng ở đó năm phút. Tàu sẽ tiếp tục hành trình về phía Bắc. Quý khách có vé đi Hà Nội chuẩn bị rời tàu”. Hoàng có vé đi Hà Nội. Anh cần đến đó, một nơi thăm thẳm huyền bí đã gieo vào trí óc anh từ khi còn là một chú bé với bao nhiêu nội dung lộng lẫy kiêu kỳ. Nơi chốn Hoàng thành Thăng Long linh diệu, “người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Ở đấy có một nữ biên tập viên nhà xuất bản đang đợi Hoàng để bàn bạc về bản thảo cuốn sách mới của anh. Qua điện thoại, cô ấy nói rất cần trò chuyện trực tiếp, mà mục đích chính là thỏa hiệp cắt bỏ những đoạn “nhạy cảm”, thứ nữa, có nhiều chỗ anh viết quá khó hiểu, không thể nào luận ra được. Hoàng đồng ý, khá lâu rồi anh không đến Hà Nội, đó là nơi anh không được thuộc về, mà anh cũng không muốn thuộc về…

 – Chúng ta sẽ cắt bỏ những gì, thưa cô?

 – Những tiếng kêu la ở cao điểm 31, như là tiếng kêu la của loài thú. Anh đã viết thế? Con người cơ mà, dù họ bị thương sắp chết, thì vẫn là cái chết của con người. Nhưng trong sách anh đã mô tả như là các con thú? Tôi sợ không qua được kiểm duyệt, anh Hoàng ạ… Đấy là một ví dụ thôi, trong sách của anh còn rất nhiều đoạn nhục cảm ghê hồn, tự nhiên thái quá… Những chỗ tôi đánh dấu bằng mực màu đỏ đó. Anh nên xem xét. Và rồi chiếc tàu chiến Mỹ, nó đi đâu, tại sao nó không bắn vào các cảm tử quân? Rồi, ba ngôi sao Bắc Cực, ý anh định nói gì, ẩn dụ gì thế?

       Hoàng kéo vai nữ biên tập viên đến bên cửa sổ. Vai cô rất nhỏ và gầy, “như cánh vạc về chốn xa xôi…”. Đêm Hà Nội thanh tao mùi ngọc lan.

 – “Đấy, cô hãy nhìn đi…”, Hoàng chỉ tay lên bầu trời thành phố, “Cô thấy gì không! Ở đó, ba ngôi sao Bắc Cực vẫn đang xoay tròn bên nhau miệt mài.”

–  Tôi không thấy gì cả, kính của tôi cũ rồi, chắc mai phải đo mắt làm lại. Anh nhìn thấy gì à?

–  Vâng, rất tiếc cô đã không nhìn được điều tôi viết trong sách, ba ngôi sao Bắc Cực, chúng đang ở trước mặt cô đấy! Vì thế, đó là sự thực, không hề có ẩn dụ gì ở đây cả.

–  Thật thế sao anh Hoàng, có thật có đến ba ngôi sao Bắc Cực đang hiện diện thật không?

      Bỗng dưng Hoàng chán ngán đến cùng cực. Đoàn tàu giảm tốc dần để dừng lại ga Hà Nội. Hoàng không muốn bước xuống ga này nữa. Anh mở smartphone, quét mã QR vào thiết bị bán vé tự động ở đầu toa, mua tiếp hành trình đi tới. Máy hỏi nhập ga đến? Ga nào? Hoàng không biết.

       Một buổi sáng nữa, thức dậy trên thuyền. Các cảm tử quân mệt nhoài vì giấc ngủ đêm qua giữa trời im gió. Mồ hôi họ chảy ròng ròng ướt đẫm sạp thuyền ghép bằng tre. Họ thực sự mất hoàn toàn phương hướng. Tất cả mọi người trên thuyền đều bị mộng tinh. Quần đùi họ ướt những vệt đáng ngờ. Chú Nam thì tóc ngày càng xanh lại, khoé mắt căng ra ngày càng bớt đi nếp nhăn. Anh Long cũng vậy, ngày càng trở nên hồn nhiên hỏi những câu hỏi của thiếu niên. Anh Hậu thì quên bẵng luôn nhiệm vụ cảm tử quân của mình, nằng nặc đòi trở về nhà…! Hoàng hỏi các anh đã đến đảo Cồn Cỏ lần nào chưa? Hai anh Hậu, Long trố mắt: Cồn Cỏ à, không biết! Chú Nam “triệu tập phiên họp đảng viên bất thường” trên thuyền. Chú Nam nói, giọng trong trẻo lạ thường: “Các đồng chí, nay chúng ta lâm vào tình cảnh nguy cấp, bây giờ bàn cách tìm phương hướng chở hàng đến đảo Cồn Cỏ. Bộ đội trên đảo đang hàng ngày mong đợi chúng ta!” Chỉ có chú Nam và anh Hậu, anh Long là đảng viên, anh Trường sắp được kết nạp thì em gái, Sương, vượt tuyến sang bờ Nam, nên dừng. Thế nên cuộc họp chỉ có ba người, mình chú Nam nói, hai anh Hậu, Long gật gù, dường như không hiểu gì. Chú Nam cuối cùng kết luận: “Giờ đây bốn phía mịt mù không biết nơi nào, cần phải lặn xuống dưới nước để xem đặc điểm cấu trúc đáy biển cùng rặng san hô, nhằm xác định địa điểm, phương hướng. Nếu có san hô đỏ, tức là đã gần Cồn Cỏ. Nếu không có, là khó đấy”. Chú Nam phân công anh Hậu, ngày mai, nếu mặt trời không mọc, thì sẽ lặn…

       Dĩ nhiên mặt trời không bao giờ mọc. Anh Hậu đã lặn xuống đáy biển theo lệnh chú Nam và không bao giờ ngoi lên nữa. Hồi lâu, chú Nam lần theo sợi dây bảo hiểm xuống nước tìm kiếm, tuyệt vọng, rồi trèo lên thuyền lắc đầu, kéo sợi dây thừng dài bốn mươi lăm mét lên, cuộn lại. Chú Nam nói, Hậu mất tích, hi sinh rồi. Hậu ơi, mày sống khôn thác thiêng, phù hộ cho anh em đi đến nơi về đến chốn. Mà thân xác mày, hãy tìm đường mà về đất mẹ… Ở đây đáy biển rất sâu, không thể nào lặn tới.

       Đêm lại đến, bầu trời tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ có ba ngôi sao Bắc Cực xoay tròn trên cao, chiếu ánh sáng trắng xanh xuống gương mặt Hoàng và lấp loáng mặt nước biển. Anh nhớ Sương.

 –  Anh Trường ơi, trước khi vượt tuyến sang bờ Nam, Sương có nhắn gì cho em không anh?

–  Không, tao thấy nó cũng khá bình thường. Tao tưởng nó ra nơi tập trung đi sơ tán K10, ai dè nó vượt tuyến vô Nam. Mày đừng hỏi nữa!

–  Anh Trường ơi, anh đi biển nhiều, có khi nào lâm vào cảnh này không anh?

–  Có một lần năm nào, khi bằng tuổi mày, tao đi câu mực với cha. Bỗng dưng mấy ngày liền thuyền luẩn quẩn không ra được, bầu trời ong ong mụ mị. Sau gặp một cơn giông gió giật mưa xối. Tan giông thì đã thấy Cửa Tùng trước mặt, hai cha con vội vã chèo vào. Nhưng kỳ lạ lắm mày ạ, tao nhớ hôm đi biển là đầu năm học, mùa thu, nhưng khi trở về lại đúng giữa mùa Hè. Tao đến trường, vắng im chỉ có lá bàng rụng. Phượng nở rực trời. Trên bảng đen phấn trắng còn ghi bài học cuối lớp chín. Bài giảng văn về “tự sự” của cô Mai. Cái gì? Hình như là vấn đề “đại tự sự” trong thơ Tố Hữu. “Kho ký ức thể loại tiêu biểu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa của nước ta”.

–  Sau rồi sao nữa anh Trường?

–  Sao nữa, tao đành phải sống lại một nửa mùa hè nóng bức, lại phải chờ đến ngày khai giảng nhập học năm lớp mười… Lúc đó hãy còn hòa bình, chưa có chiến tranh phá hoại. Nhưng mà kỳ lạ hết sức. Hôm khai giảng tao lại đến muộn vì ngủ quên. Câu chuyện lặp lại như cũ, tao chui qua hàng rào và lại bị rách áo. Vào lớp bọn bạn lại trêu hình áo rách của tao trông giống như cái l…n! Tao đấm vào mặt thằng Phương. Như cũ. Như là đã có một cuộc đời mà tao đã sống qua một lần rồi vậy, Hoàng à.

      Mọi người chìm vào giấc ngủ thật sâu, rồi tỉnh giấc vì mạn thuyền va vào cái gì đó, “khậc, khậc”. Chú Nam thức dậy ngay:

 – Tàu Mỹ! Chuẩn bị chiến đấu. Hoàng!

–  Dạ.

–  Lắp đạn nhanh lên. Chèo ngay, chèo ra xa khoảng cách một trăm mét mới bắn được B40.

      Chú Nam và anh Trường, anh Long hối hả chèo thuyền ra xa. Trong ánh sáng trắng xanh của ba ngôi sao Bắc Cực chiếu rọi, Hoàng nhìn thấy rõ chính là chiếc tàu anh đã bắn nó bị thương hôm nào, vết đạn còn đó trên thân tàu nhưng đã được hàn lại, thép mới, diện tích bằng nửa cái bánh xe đạp. Gần đấy là dòng chữ tiếng Anh, có “USA”, “2048”. Quả đạn B40 cuối cùng. “Hoàng, mày nhắm thật chắc nghe chưa. Rồi, bắn đi…” Chú Nam thì thầm. “Hoàng nhấn cò”, luồng lửa phụt ra sau vai anh bỏng rát. Quả đạn B40 lao đi, xuyên hẳn sang phía bên kia thân tàu mà không hề có tiếng nổ phá xuyên thép. Chiếc tàu bình an vô sự chẳng hề hấn gì, thả trôi lững lờ. Quả đạn xuyên qua hai lớp vỏ tàu, tiếp tục lao vút vào hư không… Chú Nam tròn mắt kinh ngạc. Đạn làm sao thế nhỉ? Hay loại đạn mới Liên Xô sản xuất thử nghiệm?

       Kể từ lúc ấy, thuyền trôi đi đâu thì chiếc tuần dương hạm USA mấy nghìn tấn theo đấy, nhưng nó im lặng chả có động tĩnh, phản ứng gì, trong vùng biển mờ mờ như mộng ảo. Dường như trên tàu không có người. Một chiếc tàu hoang? Suốt mấy ngày liền cứ như thế. Anh Long đã có dấu hiệu mất trí nhớ hẳn, hỏi gì cũng không biết… Chú Nam quyết định cho thuyền cập mạn tuần dương hạm. “Đánh gần hả chú Nam?”. Hoàng hỏi. “Không, tàu hoang, ta sẽ lên đó xem”. Chú Nam và anh Long ở lại giữ thuyền. Hoàng và anh Trường leo lên tàu bằng cách đu dây, rồi bám vào một lối cầu thang nhỏ phía sau đuôi tàu, lên boong. Hai anh em đi khắp con tàu tuyệt vắng. Ban đầu họ rón rén, nhưng sau đó mạnh dạn hẳn lên vì không thấy động tĩnh gì cả. Các hệ thống máy móc vẫn đang hoạt động, âm thanh lèo xèo trong máy bộ đàm liên lạc. Các màn hình ra-đa vẫn chạy như bình thường. Rải rác trên sàn tàu, trên bàn, trên giường ngủ tại các buồng thủy thủ, và cả trong WC, là các tấm thẻ bài bằng inox ghi tên và số hiệu lính Mỹ. Hoàng và anh Trường thâu nhặt tất cả, đếm được 212 chiếc. Hai anh em lang thang, khám phá mọi ngõ ngách của nó, nhất là chui vào các ụ súng, pháo, kho vũ khí. Đạn này, tên lửa này, ngòi nổ này. Tất tần tật vũ khí này rồi sẽ giáng lên miền Bắc Việt Nam? Rồi Hoàng lên đài chỉ huy, anh nhìn vào kính viễn vọng, quét ra xung quanh bốn hướng, mờ mịt không có đường chân trời. Hoàng hướng ống kính viễn vọng lên bầu trời, nhìn rõ ba ngôi sao Bắc Cực thật gần. Anh Trường đưa cho Hoàng mấy gói bánh bích-quy, và chai nước Coca Cola, bảo mang trở lại thuyền cho chú Nam và anh Long, rồi hãy trở lại đây. Hoàng ngoan ngoãn vâng lời.

        Anh trở lại chiếc thuyền gỗ cảm tử quân và không thể nào tin nổi: Trên thuyền, chỉ có một chú bé chừng bốn tuổi đang ngồi nghịch chơi những hộp đạn AK đã gỉ sét. Nét mặt của nó hao hao giống chú Nam. Hoàng tái mặt khi nhận ra điều đó. Anh gọi “Chú Nam, chú Nam”, chú bé quay mặt nhìn anh và mỉm cười hồn nhiên. Hoàng trao cho chú bé gói bánh bích quy và chai nước Coca Cola. Anh Long đâu rồi? Chú bé tròn xoe mắt ngơ ngác.

      Hoàng đã hiểu. Đêm xuống thật nhanh. Ba ngôi sao Bắc Cực xuất hiện, chiếu ánh sáng trắng xanh và dường như vòng quay của nó nhanh hơn nhiều lần. Một giây một vòng. Hoàng đã hiểu, giống như câu chuyện anh Trường đã kể, nơi đây thời gian chạy lùi… Càng sống thì càng trẻ lại, quên sạch ký ức và rồi biến mất bất ngờ như là khi ta ban đầu đến thế giới này. Nhưng tại sao với Hoàng thời gian lại đứng yên? Mà chiếc tàu “USA” lại biến mất đâu rồi, trên đó còn có anh Trường?

                                                                 *

     Bây giờ thì đêm nào Hoàng cũng bị mộng tinh. Anh nhìn thấy anh ân ái khi thì với Sương, khi thì với bà Việt kiều từ Thái Lan mới về nước… Chú bé trên thuyền, Hoàng không thể gán được khái niệm rằng đó chính là chú Nam đội trưởng cảm tử quân, chú ruột của anh, một hôm rồi cũng biến mất. Khi anh tỉnh dậy sau đêm rất dài, thì không thấy chú bé đâu nữa, mặc dù đêm hôm trước anh đã cẩn thận buộc chân chú bé vào sạp thuyền bằng dây thừng. Chỉ có đầu sợi dây vẫn còn với cái tròng dây nhỏ xíu vừa vặn cổ chân đứa bé hai tuổi. Và với Hoàng, dường như anh cũng ngày càng trẻ lại, không còn một thứ đặc quyền thần thánh nào nữa cho riêng anh được dừng lại mãi ở tuổi mười bảy? Hoàng bật khóc tức tưởi, chỉ còn lại một mình đơn độc trên chiếc thuyền gỗ cảm tử quân. Rồi mình cũng sẽ biến mất như này, không ai hay biết? Đảo Cồn Cỏ ở đâu, có thật hay không hay cũng là huyền thoại? Hoàng biết rồi sẽ đến ngày nào đó, có thể sau đêm nay. Hay ngay trong đêm nay, anh cũng sẽ biến mất như bốn cảm tử quân trên chiếc thuyền này, đã biến mất.

        “Chúng tôi xin thông báo. Đoàn tàu cao tốc VN-2048 tiếp tục hành trình, sẽ dừng ở ga Bằng Tường sau đây 35 phút. Sau đó 7 giờ, tàu sẽ dừng ga tiếp theo Bắc Kinh. Chúc hành khách ngủ ngon!”. Hoàng quay vào buồng của mình. Anh đã chọn nơi đến tiếp theo là ga Bắc Kinh. Bà Việt kiều từ Thái Lan, nhìn anh mỉm cười:

 –  Cậu đi tiếp à?

–  Vâng.

–  Tôi biết chứ, cậu sẽ không xuống ga này!

–  Sao bà biết được?

–  Đừng gọi tôi là bà.

–  Vậy gọi là gì ạ?

–  Hãy gọi ta là mẹ. Ta là mẹ của Sương!

        Hoàng há hốc miệng kinh ngạc. “Sương, bà là mẹ của Sương, có thật không ạ?” Bà Việt kiều lại mỉm cười… “Sương bây giờ ở đâu, thưa bà?” Bà Việt kiều bảo, cậu hãy nhìn ra ngoài, ở dưới dòng sông.

        Tàu cao tốc qua cầu Long Biên chầm chậm. Chiếc cầu sắt do người Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20, bắc qua sông Hồng đã 145 năm rồi. Nó đã được trùng tu qua mấy bận. Cổ điển và mang vẻ kiêu kỳ romantic. Chiếc cầu cũng là một kiến trúc “đại tự sự” của thời kỳ thực dân. Bấy giờ con thuyền gỗ cảm tử quân của Hoàng đã trôi đến dưới chân cầu này, với một hành trình nào đó mà Hoàng không thể biết. Và cũng giống như một đêm chiến tranh trong vùng thời gian quên lãng, Hoàng mở mắt ra thì nhận ra ngay cầu Long Biên trước mặt. Và nơi Thiên cực vẫn là ba ngôi sao Bắc Cực miệt mài xoáy tròn. Hai bờ sông Hồng thành phố đông đúc, ồn ã, chả giống gì thủ đô của nước đang có chiến tranh. Trên cầu, ánh đèn xe lướt qua như sóng… Rốt cuộc, anh đã đến được Hà Nội. Sương à, Hoàng đã đến Hà Nội rồi, bằng đường biển và sông. Anh nhìn thấy một con tàu hỏa màu trắng bò chầm chậm qua cầu Long Biên. Hoàng lẩm nhẩm đọc từng con số ghi trên thân tàu: Hai… Không… Bốn… Tám! “VN – 2048”. Sao lại thế được, “2048” phải là tàu thủy, tuần dương hạm của Mỹ chứ, tại sao lại là tàu hỏa. Nhưng mà, “2048”? Đúng rồi, chính xác là “2048”! Vậy thì anh Trường còn ở trên đó. Hoàng mừng rỡ đứng bật dậy trên sạp thuyền gỗ cảm tử quân, chòng chành, rồi Hoàng hét gọi “Anh Trường ơi, anh Trường ơi!”.

         Ngay lúc ấy, ở trên con tàu cao tốc VN-2048 đang bò chậm chậm qua cầu Long Biên, chuẩn bị tăng tốc cho đạt tốc độ thiết kế 380km/h, người đàn ông lịch lãm, có dáng vẻ một nhà văn, nghe tiếng gọi “Anh Trường ơi!” vọng lên từ dưới lòng sông Hồng. Anh cảm giác như ai đó gọi chính tên anh, “Trường”. Mà sao anh lại mang tên Trường được? Anh là Hoàng chứ? Nhưng tiếng gọi “Anh Trường ơi” như gọi thẳng vào tâm trí anh?… Anh trở lại buồng của mình, bà Việt kiều trả lại anh tập bản thảo rất dày. “Một cuốn sách không tồi, con trai!”. Anh thẫn thờ, trong thoáng chốc anh đã quên bẵng mình là ai, và đang đi đến đâu? Và dĩ nhiên không hề biết cả anh và đoàn tàu 2048 đang chạy đến một vụ nổ của chính nó, ở ga Bắc Kinh. Giới chức địa phương không điều tra được nguyên nhân. Người ta chỉ nói có con tàu màu trắng đến từ phương Nam, khi giảm tốc chỉ còn 60km/h vào ga, thì nó bất ngờ phát nổ. Dường như nó bị bắn bởi tên lửa vác vai, lại có nguồn tin nói nó bị mảnh thiên thạch lao vào… Và điều này mới lạ này: Trên tàu, không có ai. Chỉ có một tập bản thảo ghi tiêu đề “Câu chuyện lớn sụp đổ”, vẫn còn nguyên vẹn.

        Khi đó trên bầu trời thành phố xa xôi này mới bắt đầu xuất hiện ba ngôi sao Bắc Cực quay tròn đều đặn quanh nhau nơi đỉnh trời, quay ngược chiều kim đồng hồ, nhưng không bao giờ có ai nhìn thấy.

Trần Hoài

(Truyện đã đăng trên Tạp chí Sông Lam số 16, 8/2021)

Leave a Reply