Ông trạng xóm Trần

54

Mỗi vùng quê trời nứt ra một ông trạng. Ông trạng vừa là cái xu- páp xả hơi vừa là cái roi mót quất vào thói hư tật xấu của làng. Xóm Trại có Phạm Hâm cũng được coi như trạng sống
Ngay từ hồi nhỏ, trời đã phân cho cu Hâm đóng vai ấy. Mà cũng hợp thật, mặt của Hâm như 2 nửa quả táo ghép lại, chả là 2 má cậu vống lên đo đỏ mà cái mũi lại tẹt xuống, Mỗi khi  cậu nói, cái mũi nhìn mồm phập phồng thở như 2 cằm nhái bén. Đầu vừa to, vừa nặng. Người ta có cảm giác là cái cổ khẳng khiu ấy mệt mỏi lắm vì chúng làm bằng đất pha cát. Đấy là vết tích của việc tắm rửa kỳ cọ qua loa và không xà phòng. Nhưng, cậu Hâm đến cũng đồng thời mang một nụ cười đến biếu. Ngay từ tấm bé, đã là thiên sứ của nụ cười .
  Khi Hâm lẫm chẫm đi học mẫu giáo, người mẹ dắt tay đến trường. Lúc ấy các cô đang ngồi bắt chấy, tán gẫu. Người mẹ bảo: “Con vòng tay lại chào các cô đi”. Hâm bập bẹ: “Cháu chào các cô ạ”. Người mẹ bày lại: “không phải, con chào từng cô một cơ”. Hâm  nói theo như một cái máy: “Cháu chào từng cô một ạ”. Tất cả cười lăn.
Lên lớp 1 cu Hâm nghịch như choi choi. Hết chọc đứa bên trái lại ngoáy đứa bên phải. Thầy bắt cuối buổi phải ngồi lại viết một nghìn lần Phạm Văn Hâm. Cu cậu cứ hát ti tỉ như không. Thầy cáu: “Sao phạt nặng, giam thế mà em không chừa?”, đáp: “Thưa thầy, thầy giam em thì em giam lại thầy có gì đâu”. Nó nói đúng, trò ngồi viết, thầy ngồi chờ, có hôm đến giờ Mùi, bóng mái ngói  đổ xuống 2 hàng gạch, trò mới viết xong, thầy trò mới hối hả đóng cửa trường cùng ra về!
Cuối năm lớp 1, người cha sai con sang nhà hàng xóm bắt 3 con mèo con do mèo mẹ đẻ lang về. Cầm theo cái rổ, Hâm sắp 3 chú mèo con vào. Đến nhà, Hâm đổ mèo ra sân gọi  cha: “Cha ơi, ra đếm xem đã đủ mèo con chưa kìa”!. Người mẹ phát vào lưng con ngán ngẩm: “Ngu thế không biết, học hết lớp 1 rồi mà 3 con mèo không đếm nổi. Làm gì mà ăn hả trời!”
Học trong sách, môn toán thì chậm nhưng chuyện ngoài đời Hâm hóm ra phết. Thầy giáo Thiện thường cắp sổ điểm đi về vất vả. Hâm thưa thầy nên gác lên xà hạ của Đình cho tiện.  Thầy vặn lại: “Ngộ nhỡ trò nào nghịch trèo lên lấy sổ của thầy thì sao?”. Hâm nói: “Thầy chớ lo chuyện ấy, trong lớp chỉ một vài bạn  leo được cột đình này thôi. Sau khi thầy  gác sổ lên lên xà, thầy bảo em nào trong lớp trèo lên lấy được sẽ thưởng điểm. Căn cứ vào kết quả đó thầy giao mất sổ chỉ có bạn ấy, là xong”. Thầy Thiện làm theo kế ấy, đúng là không mất sổ.
Mỗi đêm xem chiếu bóng ngoài trời, Hâm vẫn thường rủ bạn bè nghĩ ra trò nghịch để trêu chọc các anh các chị thanh niên. Trước hết nghĩ mẹo qua cổng đón vé. Hâm bàn với bạn lấy tàu chuối đập bồm bộp xuống đất, đuổi nhau chạy phốc qua  cổng soát vé. Người canh cổng thấy trẻ đuổi đánh nhau thì theo phản xạ tránh ra một bên. Thế là mấy cu cậu qua trót lọt. Mà có biết cũng chẳng làm được gì bọn nhóc ấy. Vào bãi, thằng Hâm còn bày trò bắt châu chấu nhúng mắm tôm rồi thả ra. Châu chấu bay loạn xạ, bám vào đầu tóc, quần áo thơm tho của các cô cậu thường đứng ghẹo nhau chứ không chịu ngồi. Thoáng sau họ phát hiện thấy mùi mắm tôm, kêu oai oái. Hâm và các bạn thì ngồi bấm nhau cười khoái chí. Có hôm Hâm lại bày trò bắt thằn lằn bỏ chân các cô. Hồi ấy ở xóm Trại còn có tục mặc váy,  lạ gì thằn lằn có tính hay leo ngược, các cô bị thằn lằn bám hoảng hốt chạy rú lên còn các chàng quỷ sứ thì được một trận cười vỡ bụng. Hâm còn xúi các bạn trong lớp khi trực nhật bôi nhựa mít lên ghế cô giáo ngồi. Khi cô ngồi lên, nhựa mít bám đít quần nếu đứng lên sẽ “roạt”, cô giáo tưởng quần móc đinh rách chỗ hiểm tái mặt, lúng túng cả buổi giảng. Nhiều cô thẹn chín cả mặt.
Khi học truyện Kiều của Nguyễn Du, Hâm quả quyết: Thuý Kiều và Thuý Vân là 2 chị em sinh đôi! Cô giáo vặn: “Căn cứ vào đâu mà em nói liều vậy?”, Hâm đủng đỉnh: “Thì thưa cô chẳng phải Nguyễn Du viết: “Đầu lòng hai ả tố nga/ Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân”. Đầu lòng tức là lần sinh đầu tiên phải không ạ?” Lại còn nói, Kiều gặp Kim Trọng ở  bên cầu, bên mộ Đạm Tiên là vào buổi sáng chứ không phải buổi chiều như các thầy cô giảng. Bởi câu: “Tà tà bóng ngả về Tây, chị em thơ thẩn dang tay ra về”. Tức là mặt trời ở phía Đông bóng mới ngả phía Tây được. Ngẫm lại, ai cũng buồn cười và khen lối suy diễn cũng có lý. Hâm nổi tiếng dốt toán (3 con mèo không đếm nổi) vậy mà còn thách đố giải toán vui trên bảng tin nhà trường đấy. Bài Hâm thách đố: 4 chia 3 bằng mấy? Đáp số bằng 2. Xem xong ai cũng thấy buồn cười, nhất là đội tuyển toán đi thi hàng tỉnh thấy không thể bằng 2 vô lý lắm. Nhưng họ vẫn cố giải và mong đến thứ 2 tuần sau để xem đáp án thằng xạo. Sáng thứ 2, đúng 7 giờ, Đoàn trường mời Phạm Hâm ra công bố đáp án. Hâm cầm phấn, tủm tỉm viết: “Bốn còn gọi là tứ. Ba còn gọi là tam. Tứ chia tam là tám chia tư. Vậy ta dễ dàng suy ra bằng… hai!”
Cha tổ cái thằng xạo quá chừng.

Tranh minh họa: Trần Minh Châu

Các bạn càng thêm yêu mến Hâm. Có bận cả bọn rủ nhau tới nhà xem cu cậu nghịch ngộ thế nào. Mẹ Hâm vừa đun cám lợn, vừa kể cho đám con gái nghe trò gan góc của con:
– Ngay từ nhỏ thằng Hâm đã gan như cóc tía. Một lần nghe bảo nó hay leo lên cây muỗm đình làng hái quả. Cây muỗm thân gốc to 3 người ôm không xuể, cao hàng chục mét. Thế mà nó ném dây thừng vắt qua một cành ngang rồi cứ thế leo lên như rắn mối. Lên ngọn hái quả, bắt tổ sáo chơi mà chẳng sợ nguy hiểm. Các cháu đã nghe câu tục ngữ “có phúc đẻ con hay lội, có tội đẻ con hay trèo?” Bực quá, tôi rình mãi, một hôm thấy cu cậu đã trèo lên cây muỗm bèn cầm roi đứng dưới gốc đợi hắn tụt xuống là đánh. Thấy không còn đường chối và chạy nữa, cu cậu đánh bài liều: Ngoắc cằm vào một cành ngang, hai tay thõng xuống, chân đung đưa làm tôi sợ tái mặt, sợ con rơi xuống đất thì tan xương. Để an toàn cho con, tôi  đành phải về.
Khi Hâm học cấp 3 và hoạt động thanh niên ở địa phương trong dịp hè, nó vẫn cứ nghịch ngộ và láu lỉnh thế. Cửa hàng mua bán của xã đưa về một đống xoong chảo méo mó, quần áo cũ vải xấu chẳng ai thèm mua. Nếu có nhà nghèo muốn mua cũng không có tiền. Hâm bảo ông Thao chủ nhiệm cửa hàng: “Chú Thao này, chú muốn bán hết thì cháu bày cho cái mẹo phao rằng đây hàng phân phối chứ không phải thứ bán tự do nhé. Chú viết giấy báo về các xóm, cứ 3 hộ được bình mua một bộ quần áo, hoặc chiếc xoong. Hạn trong 3 ngày, ai không mua coi như mất quyền lợi. Như thế cháu cam đoan người ta sẽ đổ xô mua hết cho mà xem”. Ông Thao làm theo. Đúng chiều hôm sau, đống hàng hoá ế thừa, kém chất lượng ấy hết nhẵn. Ông Thao thở phào nhẹ nhõm,  tặng cho Hâm một cặp pin, xuýt xoa: “Cháu thật là thần”.
Tất nhiên cũng không ít lần Hâm công kích những cán bộ  hách dịch, tham ô cửa quyền thường bị dân thù ghét. Chẳng hạn ban quản trị liên hoan xuống đồng, ông Thanh chủ nhiệm xung phong cho làm thịt con chó nhà. Âm mưu biến giá con chó ấy thành con bò (con chó tính giá 1 cân hơi 30 đồng, rồi cho nợ đến mùa lấy thóc, giá 1 tạ thóc nhà nước quy định 28 đồng). Biết ý đó Phạm Hâm vào trại lẻn viết lên văng: “Hợp mắc bạc chó Thanh”. Ông Thanh hỏi, Hâm phân trần: “Thương ông tôi viết ra cho, chả được ông cám ơn lại còn mắng oan”! Cũng trong cái nhà canh trại ấy, cứ hàng ngày Phạm Hâm lại viết vài câu thơ kiểu đùa cợt cho vui. Cánh đi trâu kiếm củi thôn Trần cho đấy là tờ văn nghệ đọc thuộc làu làu. Chẳng hạn: “Mỗi người làm việc bằng hai/ Để cho quản trị mua đài, mua xe”. Hoặc “Nông trang nông trại/ Ai khôn ở lại/ Ai dại thì đi…”
Dẫu sao thì trong làng có một tay ăn nói lỗ mãng, tếu táo thế nhiều khi cũng mất uy chính quyền. Cha mẹ Hân tính toán: Phạm Hâm cũng đã cập kè tuổi 18 rồi. Cho nó đi bộ đội để rèn luyện. Phạm Hâm nghe tin cứ nhơn nhơn ra chẳng sợ gì lại còn cười đùa như không. Bữa liên hoan thấy chỉ có 3 chú  nhập ngũ, mà đếm 9 ông quản trị đến “ăn theo”, Hâm thay mặt người đi phát biểu: “Hôm nay anh em chúng tôi liên hoan cho quản trị”. Mấy ông nghe nó nói kháy thế, ê mặt lắm…
Vào bộ đội, Phạm Hâm tính nào vẫn tật ấy. Con nhà nông, chân khoẻ tay cứng việc gì cũng làm băng băng. Nơi nào khó khăn đều có mặt Hâm. Trung đội phân công lính vác đế cối 60 li, tròn vo như cái mâm, nặng gần 3 yến chẳng ma nào muốn nhận, lại nhờ Phạm Hâm. Rồi hắn được điều lên tiểu đội cối thuộc bếp đại đội cũng nhờ đức ăn no vác nặng ấy. Ở đấy còn có thủ kho, thủ quỹ, anh nuôi, tiếp phẩm vai nào cũng cần sức khoẻ, Hâm tham gia tất.
Làm anh nuôi, ra chợ các o xúm vào trêu đùa mời mua hàng. Phạm Hâm cứ đon đả đáp lại. Có em khéo mời chào: “Anh mua bí đao cho em đi, em bán một nửa biếu anh một nửa”. Hâm hỏi lại: “Thế trong 2 quả này, quả nào bán, quả nào biếu?”. Cô gái thản nhiên chỉ một quả. Hâm tỉnh bơ ôm quả ấy bỏ vào sọt: “Cảm ơn, cảm ơn, tôi chỉ xin quả biếu thôi còn mua tôi hết tiền rồi, cô thông cảm nhé!” Cô gái chưng hửng vì anh chàng đáo để ấy. Đùa thế thôi, sau đó anh Hâm lại mua cho các cô bán hàng.
Một lần khác, anh em rủ nhau vào quán thịt chó nổi tiếng là “máy chém”. Chủ hàng vớ được các chú bộ đội càng lợi dụng tiếng hào hiệp bán đắt. Mới rồi có thằng bạn thiếu 2 hào, ông ta đòi tháo lưỡi lê súng ra để làm tin. Hôm ấy, Hâm bảo: “Để tao chơi khăm cho một chuyến”. 3 anh em ngồi vào bàn rồi, Hâm gặp chủ quán giao giá: “Chị bán cho 3 bát thịt chó. Nhớ là thịt chó đấy nhé”. Bà chủ quán liếc ngang: “Gớm, nhà này không bán thịt chó thì còn bán gì nữa!”
Khi ăn Hâm bảo: “Các chú cứ nhằn xương ra bỏ dồn vào một bát, tớ chỉ trả 2 bát 4 đồng thôi”. Nói thế, Hâm làm thế thật. Chủ quán nhấm nhẳn, toan cãi, Hâm cũng sừng sộ lại. “Tôi đã nói đi nói lại là mua thịt chó nhé. Đây là xương, chúng tôi trả lại”. Chủ quán nhìn ông khách dữ tợn, kiệm lời, dứt khoát và lý sự thì lắc đầu ngán ngẩm cầm tiền 2 bát thịt chó, ngậm bồ hòn làm ngọt.
Sau nhiều năm quân ngũ, Phạm Hâm suy nghĩ mông lung lắm. Gã quyết định đập bệnh ra về. Lắm mưu, nhiều mẹo, Hâm cũng “qua mặt” được các cán bộ chính sách.
Sau khi an dưỡng, ban chính sách hỏi Phạm Hâm nguyện vọng thế nào. Gã biết trình độ văn hóa ấy của mình thì không làm gì được, nên viết đơn xin phục viên về quê. Thế cũng là cái hay. Quê gã chỉ có đàn bà, con gái hoặc ông bà già. Về hôm trước, hôm sau ông Tấn Bí thư Đảng uỷ xã đã vào đặt vấn đề chung vai gánh vác việc công. Gã gãi tai: “Tôi trình độ văn hoá ngang con vịt, không đảng viên, thì làm được cái gì?” Ông Tấn nghĩ là gã khiêm tốn bèn nài: “Nếu cho anh chọn, chẳng lẽ không chọn một vai gì cho hợp khả năng?” Hâm ngồi suy nghĩ một lát, rồi cười hì hì: “Bác đánh đố em. Nhưng bác hỏi rứa thì em nói thật. May ra chỉ làm được chủ tịch xã bác ạ!”
Ông Tấn trố mắt ngạc nhiên, hỏi lại: “Sao, hồi nãy anh bảo không có trình độ sao bây giờ lại nói làm được chủ tịch xã, là cái chức cao nhất?” Phạm Hâm thủng thẳng đáp: “Nếu làm chức cụ thể, kế toán chẳng hạn thì con số chính xác, ai mà làm được. Làm công an xã cũng vậy, xử oan sai, người ta kiện lại. Làm cái anh xã đội bắn súng không vào bia thì ai cũng chê cười. Nhưng làm chủ tịch thì khác. Có tham mưu lo cho hết, văn bản đưa lên, ưng thì gật, rồi ký cái rẹt. Không ưng thì nói vài câu đại khái rồi bắt họ làm lại.”
Ông Tấn nghe vừa tức vừa phải phì cười. Trước khi ra về, ông lại hỏi một lần nữa, nửa đùa nửa thật: “Ngoài chức chủ tịch, anh có thể làm được việc gì?” Hâm ngửa mặt lên trời, ra chiều suy nghĩ: “Cũng có thể làm được cái chân kế hoạch hoá gia đình nữa bác ạ, nhưng cũng phải để em lấy vợ, con xong đã”.
Quả thực, mấy năm sau, thì gã đảm nhận cái chức trưởng ban kế hoạch hóa gia đình của xã. Ông Tấn phấn khởi quá, cái việc ấy ai cũng chê, mà là mặt yếu của xã luôn bị huyện phê bình, giờ có người gánh vác. Ai cũng buồn cười, nói vui: “Phen này dân số của xã ta sẽ phát triển nhanh đấy. Xã sẽ trở thành một nước Trung Hoa nhỏ cho mà xem”. Thế nhưng chẳng phải nói chơi, Hâm ngông nghênh cà chớn vậy nhưng công việc xã hội thì nghiêm túc lắm. Thì đấy, gã ghi tên  đi đình sản đầu tiên. Chủ tịch, Bí thư và cả Ban chấp hành Đảng uỷ ngạc nhiên, có vị ớn rét. Nhà nó mới có “2 con vịt giời” mà tự đem của quý cho người ta thiến thì không phải chuyện đùa. Với việc làm ấy ai cũng bắt đầu nể Phạm Hâm. Họ bảo lâu nay người làm công tác này thường vận động suông nên dân không tin, không có hiệu quả. Hâm nói đúng, nguyên nhân chính là “con đực” chứ có phải “con mái” đâu mà nhằm vận động vào phụ nữ. Ai cũng bảo đình sản nam không có vấn đề gì sao từ người viết sách đến ngưòi ăn lương tuyên truyền việc đó chẳng thấy ai làm? Thành ra chỉ có Phạm Hâm mới là người dám nói dám làm.
Gã ăn nói loạc choạc như vậy nhưng tính tình lại vui vẻ bông lơn ai cũng thích. Ngày đại lễ, Chủ tịch xã có ý định may cho anh em khối uỷ ban một bộ đồ đồng phục. Hỏi Hâm nên may thế nào, Hâm tủm tỉm: “Nếu muốn may cho độc đáo và thực hiện triệt để chống tham nhũng thì nên may đồng loạt túi áo, túi quần chúc miệng trở xuống. Vì sao à? Vì rằng túi mà còn mở nắp để ngược thì còn bỏ của công đưa về nhà”. Ngẫm lại thằng cha này nói cũng thâm thuý đáo để.
Quên, chưa nhắc, Phạm Hâm còn có cái tài nữa là lấy được một cô vợ trẻ. Lý do thật oái oăm, tài tình. Chả là, hồi mới phục viên, gã thường ra nhà trường cấp 1 chơi với anh Hổ, bạn cùng lớp, đang hợp đồng bảo vệ. Anh bạn có con gái tên Duyên mới 17 tuổi, kháu nhất làng. Chọn một hôm trời mưa tầm tã, Hâm mua một suất thịt chó và cút rượu lên phòng trực chén chú chén anh. 2 người nốc rượu vào thì thương nhau lắm. Hâm gác chân trái lên bụng bạn khen cái Duyên đẹp hiền, ngoan ngoãn. Nếu mình được người vợ như vậy thì có chết cũng cam. Anh bạn Hổ tự nhiên mủi lòng: “Mày mà tán được nó thì tao gả cho đó.” Hâm bật dậy, giao giá: “Thật nhá!”. Hổ cáu: “Thằng nào nuốt lời thì làm con chó”. Từ đó Hâm cứ đến nhà Duyên chơi, lúc thì chép bài hát, lúc thì mua quà tặng. Đôi lúc cho tiền cùng đi xem phim, đi tắm biển. Thật tự nhiên. Thế rồi một hôm cha mệt, cô đến trường, trực thay cha. Hâm cũng lên hỗ trợ để Duyên khỏi sợ ma. Thế là bất chấp, “con ong đã tỏ đường đi lối về”. Khi Duyên bụng đã lùm lùm, Hâm không có cách nào khác nói thật với bạn, anh Hổ ngậm ngùi vì mình đã lỡ lời trót hứa nên đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Còn tuổi hơn kém  nhau vài chục, chả thành vấn đề. Thế là đám cưới diễn ra, Hâm vẫn tung tăng hớn hở như chàng rể trẻ!
 Một lần Hâm và bố vợ uống rượu say nằm chuầy choà ra sân, bố vợ kè nhè: “Hâm ạ, mày là thằng sướng nhất trần đời đó, thua tau có 1 tuổi mà mày được lấy con gái tao làm vợ.” Chàng rể cũng xoắn tai bố vợ cười khì khì: “Hổ cũng sướng thật đó, hơn Hâm có 1 tuổi mà được gọi bằng bố nhỉ!”
Mặt trăng, mặt đất, chòng chành say. Phạm Hâm, Trần Hổ nằm ngửa để 2 con cún ư ử bên người, khi trạng và chúa ngủ li bì.

Hoàng Chỉnh

(Bài đăng trên Tạp chí Sông Lam/Số 5/Bộ Mới/2020)

 

Leave a Reply