Đêm mưa quê thao thức

192

Sang tuổi 79, nhà thơ Nguyễn Đăng Chế tập hợp, chọn và cho ra mắt bạn đọc tập thơ thứ 6 (trong đó có tập in chung), lấy tên “Lục bát chiều”, tất cả 138 bài thơ cùng thể lục bát quen thuộc. Một nhà giáo cao niên của làng văn huyện lúa Yên Thành lần nọ bảo “thơ anh Chế là thơ của nông thôn”. Đọc tập thơ mới, thấy nhận xét vừa nêu hoàn toàn có lý, có tình, thuyết phục lắm, cả trong tác phẩm lẫn tác giả và gia đình nhà thơ ở ngoài đời!
Bài thơ “Mưa đêm” sau chỉ là một trong khá nhiều áng thơ tôi dẫn ra đây để cùng bạn đọc xem xét kỹ hơn
   MƯA ĐÊM
Mưa đêm xối xả trút buồn
Tôi ngồi như kẻ để hồn ai mang
Đêm nay ở với xóm làng
Mưa giăng kín lối, phũ phàng gió tuôn.

Một mình với ngọn đèn suông
Câu thơ ngâm ngợi ngấm buồn ai hay
Gió lồng xoáy bật gốc cây
Trời nghiêng nước đổ trật trầy bóng đêm.

Sáng ra cây gục bên thềm
Nhà xiêu, mái tốc, ngước nhìn mà đau
Nhà nông ngậm đắng nuốt sầu
Lúa chìm trong nước còn đâu… trắng đồng.

Xót lòng mất của, uổng công
Ốm đau, con học, tìm trong tảo tần
Thăm quê “lúa níu” bàn chân
Ngờ đâu, mưa xối lòng dân rối bời…

Chân dung Nguyễn Đăng Chế qua ngòi bút của họa sĩ Tạ Tâm

   Đêm, xưa nay đối với các thi nhân đâu phải là không gian để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Đêm, với họ đầy ắp những trở trăn, thao thức, dằn vặt, hy vọng rồi thất vọng, cho bản thân, cho cuộc đời đang chìm đắm ngoài kia, cho nhân thế, mặc dầu chẳng ai bắt buộc anh ta phải làm như thế cả… Đại Thi hào Nguyễn Du ở bài thơ chữ Hán “Bất mị” (Không ngủ) viết: “Không ngủ trống canh lạnh/ Đêm lạnh vô cùng lâu/ Núi sông xui dài mộng/ Chày nện giục rét mau...” (B.H.C dịch thơ). Cụ Nguyễn Khuyến, nhà thơ của đồng quê truyền thống Bắc bộ nước ta, trong bài thơ Nôm “Đêm đông cảm hoài”, đau đáu những câu thơ rút từ gan ruột: “Bảng lảng lòng quê khôn chợp được/ Mơ màng cuộc thế cũng cầm bằng/ Canh gà eo óc đêm thanh thả/ Tâm sự này ai có biết chăng?”. Nhà thơ Nguyễn Đăng Chế cũng không tránh được nỗi “khổ” này: “Tuổi cao tập đứng, tập ngồi/ Đêm thường trăn trở chuyện đời nông sâu” (Tản mạn đêm khuya); càng khổ tâm hơn nữa khi ở bài “Mưa đêm”, trận mưa ấy là trận bão, quay cuồng, quật ngã bao nhiêu thứ, kể cả hy vọng, của người dân trên quê hương.

Bìa tập thơ Lục bát chiều của nhà thơ Nguyễn Đăng Chế

Khỏi cần kể lại đây bao nhiêu chi tiết hãi hùng của trận mưa đêm ấy. Tôi nghĩ, cái đáng nói là ông đang đau, đang khóc trước tang thương, mất mát của Nhân dân, một Nhân dân ông đã tận hiến, hy sinh hồi chiến tranh chống Mỹ cứu nước, là trưởng phà Bến Thủy, đã có những lần đồng đội phải “làm lễ truy điệu sống” trước lúc Nguyễn Đăng Chế băng ra sông Lam phá thủy lôi, bom nổ chậm cho từng đoàn xe chở bộ đội, chở vũ khí, chở quân lương vào Nam, thống nhất Đất nước. Còn đêm nay: “Đêm nay ở với xóm làng/ Mưa giăng kín lối phũ phàng gió tuôn/ Một mình với ngọn đèn suông/ Câu thơ ngâm ngợi ngấm buồn, ai hay”. Mưa trắng đêm-ngọn đèn thức-câu thơ buồn; tất cả những thi ảnh và thông điệp ấy, thưa nhà thơ, bạn đọc lớp hậu sinh chúng tôi đều đã “hay”, hơn thế đã thấm thía và biết ơn ông rất nhiều ở cả hai khía cạnh: Người Anh hùng và Nhà Thi sĩ!

Vợ chồng Nhà thơ – Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đăng Chế

Quê Nguyễn Đăng Chế ở xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An. Còn huyện Diễn Châu là nơi có nhà thơ Trần Hữu Thung (bạn thân hoạt động văn hóa, văn chương xứ Nghệ lâu năm với cụ Nguyễn Thanh Khầm, thân phụ bác Chế), tác giả bài thơ nổi tiếng “Thăm lúa” sáng tác năm 1950. Phủ Diễn, Diễn Châu cũng lại là vùng quê quá đỗi thân gần đối với gia đình bác Chế. Sau này tìm hiểu, tôi mới vỡ lẽ, quê ngoại bác Chế là làng Phượng Lịch, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu. Hai câu thơ kết bài: “Thăm quê “lúa níu” bàn chân/ Ngờ đâu mưa xối lòng dân rối bời“, thì “thăm quê” là quê nào đây? Yên Thành hay Diễn Châu? Ở tập “Lục bát chiều”, tác giả có rất nhiều bài thơ da diết, như mắc nợ mỗi khi nhắc tới quê, tới làng (Gạo quê, Chợ quê, Nhà quê, Về với quê, Quê ngoại, Xuân này ở quê, Chắp nhặt lời quê, Làng, Giếng làng,…). Và, cũng có thể, theo tôi, xếp những câu lục bát của Nguyễn Đăng Chế sau đây viết về quê là hay:
Tuổi thơ gần đấy mà xa,
Chợ quê gần đấy sao ta khó về.
– Tôi về tìm lại áo nâu
Tìm cây rau má mọc sau hồi nhà.
– Gạo đi cuối đất cùng trời,
Mang hương quê đến những người xa quê.
– Mảnh vườn xưa của cha ông,
Tôi về xới lại nhớ mong một thời.
– Bê tông đường phẳng như sân,
Vẫn không xóa nổi bước chân lối mòn.
– Mải vui thủng thẳng dưới mưa,
Thấy lòng ấm lại như xưa làng mình…
Trở lại bài thơ “Mưa đêm”. Có lẽ, vùng quê nào ở trên đất nước Việt Nam ta cũng đều có những trận mưa đêm tơi bời và dễ gợi tâm trạng như thế. Chắc chắn, có không ít kẻ về quê gặp mưa đêm, thậm chí bão đêm, họ vẫn bình thản ngủ say. Số khác, trong đó có bác Chế, thì không thể như thế được. Bình thản ở đây sẽ đồng nghĩa với vô cảm, vô tâm, là mắc tội với quê, với làng. Cái chính, cái khó nhất là tâm hồn, nhân cách, tư tưởng của thi nhân có kịp ngân rung, kịp thăng hoa với con người, phận người, và với cả thời đại anh ta đang sống, đang tham dự để cuối cùng thành tác phẩm hay không mà thôi?

 Nguyễn Văn Hùng

Leave a Reply