Cổ tích ở làng

45

Tin doanh nghiệp về khu Mả Đường chẳng mấy chốc lan ra toàn thôn Tía. Thằng Khích vó chũm khẳng định nó là người đầu tiên  được nghe cái tin cực hot này. Bữa đó, nó đang xoạc cẳng cất vó dưới đầm thì thấy một nhóm người mặc quần áo sang trọng, kéo nhau đứng cả khu vườn đống chỉ trỏ, bàn luận một hồi trước khi lên hai cái ô tô bóng loáng dời đi. Nhanh thoăn thoắt, nó thu gọng, xốc lại cái giỏ mới lưng lửng lũ rô phi, tất tả bươn về làng như thể vừa khám phá một phát minh vĩ đại.

   Nó khiến hội thằng Tương, con Vược mắt chữ o, mồm chữ a, tưởng tượng cái khu mả đầy cây dứa dại, đêm rặt tiếng ếch ương, ngày rợp trời châu chấu ma bỗng một ngày bừng lên khu nhà máy sáng choang tựa có thần đèn phù phép. Thằng Khả bĩu môi. Bố tao mới là người biết tin đó đầu tiên. Thì mới đêm qua, đang thiu thiu ở giường ngoài, nó nghe thấy trong buồng, tiếng bố mẹ nó thì thầm to nhỏ. Cứ tưởng lại bất đắc dĩ phải biết đến cái màn “giao ban” của đôi già, nó vờ ngủ, nằm im. Nhưng chờ mãi chẳng thấy tiếng hứ, tiếng rên như mọi khi,  nó trở mình cố dỏng tai nghe lén.
Đêm đó, bà Khềnh đã qua nửa giấc thì thấy lão chồng thò đầu vào mùng. Mới hôm qua rồi cơ mà, dạo này sao khỏe thế. Chắc nay lại có tý hơi men phải không? Lão Khềnh trưởng thôn bấm vào sườn vợ. Làm như người ta vào đây lúc nào cũng chỉ có duy nhất mỗi chuyện ấy. Tối nay họp, xã vừa báo tin này. Tin chính thức, có doanh nghiệp về lấy đất, mở nhà máy khu Mả Đường làng ta. Cái đất chó ăn đá, gà ăn sỏi mà tiền đền bù mỗi sào cũng sậm suỵt ba trăm triệu. Ngồi dưới nghe, tôi cứ ớ ra, thấy mình đen như chó thui. Chẳng phải khoảnh ruộng đất rau khu này mới vụ trước nhà mình nhường cho chú Khia đợt dồn điền đổi thửa. Bà Khềnh vẫn đang lơ mơ thoắt nhỏm dậy, tỉnh rụi. Suỵt, ông phải tuyệt đối kín mồm đấy, mai tôi ra gặp thím Khia sớm bảo mình cần lấy lại làm mấy luống cải xoong. Lộ ra là hỏng bét mọi chuyện.

Minh họa: Diệp Thanh

Thế nhưng lão Khềnh có kín miệng như bưng thì chỉ hôm sau, tin nóng đã loang khắp trong ngõ, ngoài làng. Gian quán may của Thơm là trung tâm tụ tập bàn tán, phẩm bình của các thành phần rỗi việc. Như mọi hôm, thằng Sành mặt đỏ nhừ vì dăm chén buổi trưa, khụng khiêng cắp cuốn sổ ghi đề ra ngồi lỳ ở hàng ghế Thơm vẫn dành cho khách. Nó ợ một cái rõ dài, mùi lục tồn trộn cuốc lủi phả ra như đầu độc bầu không khí xung quanh. Từ lúc thấy hắn, Thơm đã lảng xa, gương mặt nhu mì không giấu được sự lạnh lùng, khó chịu. Kệ cha hắn, cô tự nhủ rồi tập trung vào việc. Vừa lúc mụ Biện lùn đi gặt về, đặt vội gánh lúa ven đường thò cái mặt sần sùi sủi cảo vào quán bảo Sành. Nay ghi tao bạch thủ con không không năm nghìn. Cho chịu tiếp nhá. Sành mở sổ thủng thẳng, vậy là chịu gần tạ thóc rồi đấy, trả dần đi không đây khóa sổ, trốc nợ cả cũ lẫn mới luôn. Khuôn mặt đỏ tựa cà chua chín của người đàn bà nhũn ra. Thì nay mà trúng, tao giả dóc ngay. Nếu không thì chờ lứa vịt chiêm đang chăn, đi đâu mà vội. Nhìn theo dáng người thắt đáy lưng ong, nét mỏng mày, hay hạt của Thơm khi tiễn khách ra cửa, mụ Biện lùn ra giọng nịnh nọt, vuốt ve Sành. Sau này cậu cứ làm gian quán khu Mả Đường, chồng một bên bán bia kiêm ghi đề, vợ một bên may đồng phục cho công nhân thì vớ bẫm ấy nhỉ. Thẳng Sành hể hả ngoác miệng cười sướng khoái. Nó nhìn theo Thơm, cục yết hầu nhấp nhô. Cứ kiêu kỳ đi, trước sau cô nàng cũng sẽ về tay anh thôi. Kinh nghiệm lỳ đòn của các bậc tiền nhân ở làng chưa bao giờ thất bại. Từ trong làng, có tiếng đàn bà cãi vã đối đáp ngày càng thêm lao xao. Giọng bà Khia tấm tức. Bác nói vậy nghe cứ ngang ngang thế nào, đã cam kết vậy, ai đời giờ đột nhiên đổi ý. Nói nhời chẳng giữ lấy nhời. Em vừa tát nước gieo hạt, nay bác đột ngột đòi lại thì biết chia bơi kiểu gì đây. Gớm, mới nghe doanh nghiệp nó phao tin mà đã cuống cà kê, đợi nó về thật có mà mươi mùa quýt nữa. Giọng bà Khềnh riết róng, không nao núng. Thế nào cũng được, giờ thím cứ giả lại tôi. Trên sổ điền địa của xã, tên tôi vẫn rành rành đấy nhá. Ngày xưa bảo chỉ mong được xuống đồng sâu tốt củ, bụ cây thì nay nhường cho cả. Hai chị em dâu mặt sưng, mày xỉa chẳng ai chịu ai. Từ khi tin nóng loang ra, đồng tiền chưa thấy đâu mà mấy nhà trong làng, anh em, bố con đã lộn tùng phèo vì tranh giành, cãi cọ.
Từ khu Mả Đường về, lão Sỏi ngồi phệt xuống thềm, móc cạp quần lôi ra cái Nokia màn hình đen trắng, lách chách bấm gọi thằng con. Đầu dây bên kia, giọng thằng Sành vẫn nhuốm hơi men. Thầy bảo gì, con đang chốt bảng, rồi còn phải mang ra phố huyện cho lão chủ Sầm nữa. Nhờ đứa nào rảnh chân nó đi thay, anh về ngay đây tôi bàn. Sành về đến nhà đã thấy bố gã ngồi đợi, vẻ mặt đăm đăm sốt ruột… Tôi lẩy ra ý này, gọi anh về ngay kẻo ai biết làm trước là thành ra dở hơi. Chỉ tháng sau thôi, xã và doanh nghiệp sẽ về thống kê diện tích, cây trồng khu Mả Đường rồi đền bù cho các hộ. Lên khu đó mới thấy dân làng mình láu lỉnh, ranh ma rách giời. Vê điếu thuốc lào nhồi nõ, lão Sỏi bắn tằng tằng một hơi rõ dài, đoạn nhả khói lơ mơ. Anh biết gì không, nhà lão Chiên kều vừa đi đặt thêm chuối tây cho thẻo đất vỡ hoang. Cái vườn chuối lâu nay lão bỏ héo rũ, xác xơ tới đây sẽ thêm ba bốn mươi gốc nữa. Sành quần ống thấp, ống cao, ngồi xuống cạnh thầy gã, mắt trợn tròn không hiểu. Lão Sỏi má tóp lại, rít lên bực mình. Anh dốt nó vừa thôi. Chẳng phải bọn doanh nghiệp mở xưởng khu Mả Đường, ngoài phải bồi thường đất, còn bồi thường hoa màu cho dân là gì… Bố con lão Chiên kều phen này vớ bẫm vì tiền đền bù chuối. Anh chỉ được cái thạo món đỏ đen, thu mấy đồng hoa hồng để nốc rượu cho đẫy vào rồi suốt ngày cắm mặt chỗ con Thơm, không biết nghĩ ra trò kiếm của thiên hạ thì hèn quá! Nhưng nhà mình có ruộng ở khu ấy đâu, thầy bảo con phải làm gì cơ? Sành vẫn tròn mắt, vẻ bất lực, ngơ ngác… Phải, như vậy tôi mới cần anh động não nhiều hơn. Không có ruộng, nhưng trên đó có phải đang còn mồ mả của ông bà anh không? Này nhé, lão Sỏi nhìn quanh rồi cúi sát rỉ tai Sành. Tôi nghe ông nội anh kể, năm đói, hai bà cô, một ông mãnh trẻ của anh thiếu ăn nhiều ngày mà chết đói hết cả. Làng bó chiếu đi chôn, sau cũng chẳng biết ở đâu. Sáng mai, anh đi làm ba cái bia cho tôi. Đợi đêm, bố con mình với vài ba đứa trai họ ra Mả Đường thắp đèn làm thêm ba ngôi mộ cạnh ông bà anh, cắm bia đàng hoàng, ai biết bảo là nhờ thầy, nhà ta mới tìm ra các bà cô, ông mãnh. Tới đây doanh nghiệp nó di dời mộ để đền bù, mỗi ngôi mình có khi còn ăn bằng vài chục gốc chuối nhà lão Chiên kều. Mắt Sành sáng lên. Thầy cao mưu thật, đầu óc con đúng là lú lẫn.
Sau cái đận trồng xong ba ngôi mộ mới không thấy người làng húng hắng gì, một buổi lão Sỏi bảo Sành ngồi lại rỉ rả nghiêm túc chuyện vợ con. Cả làng ai cũng biết anh mê con Thơm mấy năm nay. Việc riêng của anh có tiến triển gì chưa, định bao giờ cho tôi lên ông nội? Sành gãi đầu. Thầy biết rồi, ý con không đổi nhưng Thơm thì trước sau vẫn cứ rắn vậy. Giờ con cũng chưa biết tính tiếp thế nào. Lão Sỏi vểnh mặt vẻ bỉ bôi. Đánh cái đồn không có địch mà anh cứ loay hoay mãi chẳng nên thì tương lai còn trông mong cơm cháo nỗi gì. Nay mai, doanh nghiệp nó về Mả Đường, con thơm lên đấy làm công nhân, gặp giai thiên hạ thì có giời mà giữ. Bởi vậy, việc riêng hệ trọng này anh phải sớm dứt điểm xong ngay đi. Mà này, lão Sỏi nghiêng đầu, cái cằm lẹm lệch hẳn sang bên. Anh hẳn biết ông Ngữ, bố nó có tám thước đất rau khu Mả Đường. Anh mà cưa được con Thơm, nay mai suất ấy về một tay anh cả.
Từ nhiều năm nay, thôn Tía như có một luật ngầm, hễ trai thiên hạ đến tìm hiểu gái làng là khi về sẽ bị trai trong thôn phục ở mấy lùm cây đầu làng ném gạch đá dằn mặt hoặc lấy cớ cà khịa. “Trâu ta ăn cỏ đồng ta/Những con sứt mũi mới ra đồng người”. Mấy bậc cao niên dạng bựa, Chí ở làng hay gióng giả ý tứ vậy, như truyền một “sách” tán gái cho lũ trai mới nhớn. Thơm là con gái duy nhất của ông bà Ngữ, nhà ở xóm Đìa rìa thôn. Năm cô mười hai tuổi, một lần bà Ngữ đi cắt lúa chạy lũ, bị nước cuốn, cô thành mồ côi mẹ. Ông Ngữ xưa khá khéo tay, là trai làng Tía duy nhất biết thêm nghề thợ may, có thời đã từng đi ăn cơm thiên hạ. Nhưng từ đận ông bị dính một cơn cảm hàn, sức khỏe sút hẳn, phải lui về quê làm những việc lặt vặt, nhà ba miệng ăn dựa cả vào sức cày sâu cuốc bẫm của bà Ngữ. Vợ mất, ông Ngữ thương mụn con gái hiếm muộn, không tục huyền, nai lưng cáng đáng mấy sào ruộng sâu, cố gắng nuôi con ăn học với ước mơ thoát ly. Thơm chăm chỉ, sáng đạp xe đi học, chiều về phụ việc đồng áng với cha, cô không những học giỏi mà việc đồng ruộng gì cũng làm thạo cả. Năm mười sáu tuổi, đang học trường huyện thì Thơm phải nghỉ học, trở thành lao động chính trong nhà, vì ông Ngữ tái phát căn bệnh cũ. Thương con đầu tắt mặt tối, khi bệnh đã ổn, ông Ngữ bảo Thơm đi học thêm nghề may, mua cái máy khâu con bướm, lúc nông nhàn cắt may cho bà con trong thôn.
Vào tuổi dậy thì, Thơm đẹp rạng rỡ, khỏe khoắn, được xếp hàng hoa khôi trong hàng trăm gái làng. Cô thừa hưởng cái dáng cao ráo của bố, đôi mắt to đen, cặp môi hồng, làn da bánh mật và suối tóc dài mượt của mẹ. Đám trai làng bu lấy Thơm, nhưng khi thấy thằng Sành thì tất cả giãn ra. Sành bỏ học từ nhỏ, có đận từng theo mấy gã máu mặt xã bên đi đào vàng, khi về quê, ngực gã có thêm cái hình xăm, cổ lủng lẳng cái dây xích bạc móc chiếc vuốt hùm bằng nhựa tái sinh ra dáng dân anh chị. Gã mang thói hay rượu và món đề đóm về làng, sẵn sàng cà khịa, chửi càn với bất kể ai mà gã ngứa mắt. Thấy gã mê Thơm, bà Sỏi có lần đã sang nhà ông Ngữ thưa chuyện. Vào đận ốm đau lệt bệt, đi viện liên miên, hai bố con lúc nào cũng thiếu trước hụt sau, chứng kiến sự tha thiết của bà mẹ Sành, ông Ngữ từng nén tiếng thở dài, mắt ầng ậng nước, nắm bàn tay con dò ý. Ông sợ khi mình bất ngờ ra đi, mỗi mình đứa con gái non nớt ứng xử thế nào với bao cạm bẫy và luật lệ khắt khe, phức tạp ở làng. Bố nói gì cơ, lấy cái ngữ ấy con thà ở vậy suốt đời. Thơm quả quyết. Trong thâm tâm, cô ngầm ấp ủ suy nghĩ, sẽ dốc lòng chăm lo cho cha già những năm cuối đời sống ở làng an vui. Chừng  nào cha hai năm mươi, cô sẽ dời làng ra đi, có thể làm bất cứ việc gì để thoát khỏi thằng Sành và cái luật ngầm phũ phàng của đất lề quê thói. Từ ngày sức khỏe của ông Ngữ ổn định, gian quán may duy nhất trở nên đông khách, Thơm tranh thủ đi học bổ túc lấy cái bằng tốt nghiệp cấp ba. Trong thẳm sâu, cô vẫn khát khao một ngày nào đó, mình sẽ học thêm về thời trang, để có thể thiết kế ra các mẫu quần áo cho phụ nữ Việt Nam, như các nhà thiết kế thi thoảng xem trên tivi mà cô tin có thể noi gương họ. Nhìn con tháo vát, chăm chỉ và có chút thành công, ông Ngữ vui lên, khỏe hơn nhưng chuyện thằng Sành đeo bám con như đỉa đói lâu nay, trong ông cứ ngổn ngang nỗi sợ. Nhất là từ đận Thơm đi lấy vải, cậu con bà chủ sạp vải mê cô, phóng xe máy vào chơi, khi về qua cổng làng bị Sành và mấy đứa đàn em bày trò quệt xe rồi nhảy vào đánh hội đồng khiến cậu này sợ mất mật thì sự lo lắng của người cha trong ông ngày càng thêm lớn. Nhiều khi, ông đau xót và bất lực thấy mình thật vô dụng, trở thành gánh nặng của cuộc đời con gái. Chính ông cũng mong một ngày nào đó, con rời làng ra đi, tìm lấy chân trời và một tương lai mới.
Con Thơm không chỉ đẹp gái, ngoan nết, có nghề mà còn có ruộng khu Mả Đường nên mày quyết tâm cưa đổ bằng được nó cho tao. Lão Sỏi vài lần buông tiếng khích lệ thằng con. Bên cạnh việc bám lỳ cái quán may, ngăn mọi thằng le ve, mày phải cho nó hiểu nếu quá rắn, ở cái làng này chỉ có thành gái ế. Một khi có cố nhoi ra thiên hạ, kết cục cũng chẳng hay ho gì. Gương tày liếp của mụ Xuân xưa vẫn sờ sờ ra đấy thôi!
Các bậc trung tuổi trong làng thi thoảng vẫn kể cho hậu thế nghe chuyện bà Xuân, cô gái đẹp từng là đối tượng theo đuổi của lão Sỏi gần ba mươi năm trước đây. Ngày đó, bà Xuân đẹp rờ rỡ như Thơm bây giờ, còn lão Sỏi, y như thằng Sành, chỉ thiếu hình xăm, sợi dây chuyền có cái vuốt hùm bằng nhựa tái sinh và bộ dạng tong teo hơn, tựa như con chẽo chuộc. Chiến thuật hết chai mặt lại lỳ lợm, dậm dọa của Sỏi với cô Xuân tỏ ra không ăn thua. Có lần, một anh xã bên cảm mến, muốn tìm hiểu cô Xuân đã bị Sỏi phục đánh, quăng cả xe đạp xuống đìa. Vụ việc khiến bên bị từng gửi đơn từ, nhưng ông cậu của Sỏi là đương kim chủ tịch xã nên tờ đơn bị ém nhẹm, cuối cùng việc cũng chẳng đi đến đâu. Sỏi càng được thể đắc chí. Buồn lòng, cô Xuân xin đi công nhân trên một mỏ đá mãi miền rừng Tây Bắc…
Rồi mấy năm sau, bất ngờ một chiều, từ trên mỏ đá, cô Xuân thất thểu về làng, cắp theo một thằng bé con gầy nhẳng, xanh nhớt như tàu lá. Tin về người phụ nữ đẹp, từng chê trai làng, nay có con hoang phải về quê bấu víu cha mẹ già chẳng mấy loang ra trở thành đề tài bàn tán trong mọi câu chuyện của thôn. Thì ra, ở mỏ đá xứ rừng xanh, núi đỏ kia, số cô Xuân cũng chẳng tránh được phận hẩm hiu. Cô lọt vào mắt xanh lão giám đốc, đã có vợ con đề huề ở quê, quyết tâm chinh phục cô công nhân trẻ đẹp mà lão si mê ngay lần đầu giáp mặt. Ngày thằng bé con, kết quả của chuyện tình ngang trái đó chào đời cũng là lúc mọi sự bung bét, không thể che đậy thêm. Lão giám đốc bị tổ chức ép về mất sức, thay cho việc phải kỷ luật, cách chức. Còn cô gái bị vợ lão người tình lên tận nơi đánh ghen, bất quá phải nghỉ việc vác con trai về làng cũng là cùng đường, chẳng còn biết bấu víu nơi đâu. Dù rất xấu hổ với hoàn cảnh của con, thầy mẹ cô Xuân đành phải cắn răng, nuốt nước mắt cưu mang cô trong sự dè bỉu, chê cười của bà con lối xóm. Dựng cho cô con gái với đứa cháu ngoại bất đắc dĩ căn nhà gianh một gian, hai chái ở rìa làng, tối ngày, người ta thấy mẹ con cô lủi thủi trong cái đói nghèo, cùng quẫn, gần như chẳng qua lại hay giao thiệp với ai. Thiệt thòi hơn cho Xuân khi cô về quê thì làng vừa mới chia lại ruộng. Trước đó, Xuân được tính là đi thoát ly nên ngay vuông ruộng cuốc bẫm cày sâu cũng không còn suất. Để có đất canh tác, cô phải gửi con trai sang gia đình người bạn gái kế bên, vác cuốc lên khu Mả Đường miệt mài vỡ một vạt đất hoang. Rồi mẹ con bữa đói, bữa no. Rồi bao nhiêu nhọc nhằn và tủi hờn chất chứa. Ở làng dễ đến chục năm, khi thằng bé con học xong cấp một, bắt đầu lên cấp hai, bà mẹ trẻ ngày nào mặt đã quắt lại, xạm đen, chẳng còn nhận ra các nét đẹp của một thời xuân sắc thì cũng đột ngột như khi về, hai mẹ con cô Xuân dắt díu nhau rời đi. Từ đó, người làng không một lần nhìn thấy mẹ con cô, chỉ thấy vài năm sau lào phào cái tin cô bị bệnh hiểm nghèo qua đời, còn thằng bé con nghe đồn hình như được bố đẻ nó đón về nuôi. Rồi mọi người cũng quên, chỉ có lão Sỏi với đám trai cùng thời thi thoảng nhắc lại sự việc với một lòng hả hê, đắc ý.
*****
Từ lúc loang tin doanh nghiệp về khu Mả Đường đến lúc huyện, xã họp dân làm công tác đền bù diễn ra khá nhanh. Không phải doanh nghiệp nội đâu mà doanh nghiệp Tây với ngành nghề dệt may chúng mày ạ. Tin đó lại từ thằng Khích vó chũm khi nó bỏ đầm tót lên xem đại diện chính quyền địa phương, dân thôn với liên doanh đo đạc hôm rồi. Và cũng chính nó đi loan tin với đám thằng Tương, con Vược nơi gian quán may của Thơm. Hỏng hết rồi chúng mày ơi, ăn tiền Tây không dễ đâu. Chúng mày biết cái gì không, họ có cái máy bay chuồn chuồn mini, gọi là gì nhỉ, cam, không phải, là phờ -nai- cam, chẳng biết nó bay từ bao giờ mà đếm rõ từng lùm cây, bụi cỏ khu Mả. Hôm nay, người ta lại thả nó lên giời, nó quay tít vè vè, lượn khắp xa gần, lượn cả quanh làng ta một vòng rồi hạ cánh ngoan ngoãn, lè ra mấy thước phim. Như thể phép thuật, người ta phông bạt, chiếu cảnh quay trước và sau lên xem rồi đối chiếu, so sánh ngay nơi bờ ruộng nhá. Ông cán bộ địa chính huyện bảo, chỗ này có mấy ngôi mộ mới mọc lên, khoảnh ruộng kia so với tháng trước thêm vài gốc cây mới trồng, không hề có trong clip quay trước đó. Tất cả đều được khoanh tròn, đánh dấu màu đỏ. Huyện bảo, dân mình tới đây ai cố tình trồng cây, xây mộ, làm xấu môi trường đầu tư địa phương, không tự ý dỡ bỏ, sẽ bị chính quyền xử phạt đích đáng. Lão Sỏi ngửa mặt lên giời, thế là toi cơm rồi. Chẳng biết cái con Cam kia tài cỡ nào mà bao công sức đắp ba ngôi mộ thêm của bố con lão vậy là thành công cốc….
                                              *****
Trước khi đội khảo sát của công ty về làng lập dự án liên doanh, Philip Đình Bảo đã căn dặn cậu cán bộ trẻ quay kỹ nhiều thước phim đồng đất khu Mả Đường và cảnh sắc làng Tía rồi gửi sớm cho anh. Ngồi trong căn phòng của tập đoàn giữa Thủ đô, anh lặng đi, cơ thể run lên khi chứng kiến những cảnh sắc của làng quê yêu dấu hiển hiện trên màn hình. Phải, làng Tía, với lũy tre xanh, những mái nhà ngói nhấp nhô, gần hai mươi năm rồi anh mới tận mắt chứng kiến, dù ít nhiều đã đổi thay vẫn rõ từng bờ đê, xóm ngõ. Đó là quê ngoại của anh, nơi anh, đứa trẻ không cha, có quãng đời ấu thơ bên người mẹ nghèo khó nhọc trong mái tranh thưa rìa làng. Nơi tuổi thơ anh côi cút thấm đẫm kỷ niệm với gia đình người bạn gái của mẹ, người từng rất thương mẹ anh, cô bạn chấy rận phận hẩm, quý thằng bé con của bạn như con đẻ của mình. Và cô bé con gái duy nhất của cô chú Ngữ nữa, đứa con gái có đôi mắt bi ve tròn to, hai bím tóc đen nhưng nhức, học dưới anh ba lớp, là người gắn bó, chơi chung với anh thân thiết suốt những năm tháng bé thơ. Philip Đình Bảo vẫn còn nhớ, những đấu gạo của bà ngoại anh lén ông đem ra cho hai mẹ con; từng con cá, củ khoai sẻ đôi của gia đình cô chú Ngữ vốn cũng cảnh bần hàn, rồi từng chiếc kẹo dồi, kẹo bột, cục bỏng ngô được cô bé Thơm chia nửa cho anh mỗi lần mẹ về chợ chẳng ngờ lại ngon, lại đáng nhớ, để lại dư vị trong anh hơn mọi yến tiệc xứ trời tây. Hôm bất ngờ cùng mẹ chia tay làng rời đi, Bảo nhớ mãi cặp mắt thẫn thờ, đẫm lệ của của cô bé láng giềng nhìn theo mẹ con anh lặng lẽ dắt nhau băng qua khu Mả Đường đi bộ ra đón xe ven quốc lộ. Hình ảnh cuối cùng đọng lại và hằn sâu nhất trong anh chính là cái dáng manh mảnh của cô bé Thơm giữa đồng lúa trổ bông với dáng vẻ thất thần, cặp mắt ngấn nước rưng rưng, hai bím tóc đen lúc lắc cứ xa dần, xa dần, cho đến khi bị che khuất bởi gò đồi và những lùm dứa dại.
Ngay sau khi tốt nghiệp đại học rồi lấy bằng Master về quản trị kinh doanh ở trời tây, Bảo trở thành giám đốc tài chính của một quỹ đầu tư châu Âu, có nhiệm vụ tìm, giới thiệu, tư vấn và góp vốn với những  doanh nghiệp muốn đầu tư vào Việt Nam, một miền đất được đánh giá đang rất  nhiều tiềm năng. Tình cờ, anh gặp một tập đoàn đang có ý định đầu tư vào lĩnh vực dệt may. Ý tưởng mở một nhà máy may mặc xuất khẩu trên quê ngoại chợt lóe lên và khi anh trình bày, không ngờ các cổ đông của quỹ và đối tác tập đoàn đều hết lòng ủng hộ. Một pháp nhân mới được hình thành có vốn góp khá lớn của quỹ mà anh đang điều hành. Anh được cử tham gia với tư cách phó tổng giám đốc. Bảo khao khát mang dự án mới về quê hương, ngoài tiềm năng kinh doanh khả quan, trong anh còn mong muốn tri ân thôn làng và những người đã cưu mang mẹ con anh, đồng thời cũng là thực hiện lời trăng trối của mẹ.
Ngày đó, bà Xuân đột ngột dắt con rời làng cũng bởi Bảo đã chớm bước vào tuổi thiếu niên. Chứng kiến cảnh đứa con trai vắng cha, thường bị lũ trẻ hư hỏng, trong đó có thằng Sành, con lão Sỏi xua đuổi và chế giễu bằng cụm từ “thằng con hoang” theo đám người lớn mất nết, bà Xuân không muốn vết thương đó hằn sâu, đeo bám, trở thành nỗi đau không lành của đời con. Bà quyết định dắt con ra thành phố thuê trọ, nơi không ai biết gốc tích mẹ con bà là ai. Để có kế sinh nhai, bà sắm một bộ ấm trà đi bán dạo kiếm sống nơi bến xe, bệnh viện. Khó khăn lại chồng chất khó khăn. Tuy nhiên, dù khó khăn đến mấy bà vẫn quyết tâm cho con trai đi học với mong ước cuộc đời con sẽ tươi sáng, đổi thay.
Trời cho cậu bé Bảo không chỉ bề ngoài sáng láng mà còn một ý chí, nghị lực và sự sáng dạ hiếm có. Ở thành phố, đua trí với đám bạn đủ đầy, được chăm chút từng ly nhưng sức học của cậu bé nghèo làng Tía bao giờ cũng trong top đầu của khóa. Kỳ dã ngoại sang châu Âu do một quỹ khuyến học đài thọ, cậu được đưa về sống với một gia đình bản xứ cũng là cách làm quen với văn hóa xứ người trong chương trình vạch sẵn của quỹ. Một tuần ngắn ngủi đủ để cặp vợ chồng già nước Bắc Âu không con có tình cảm và ấn tượng mạnh mẽ với cậu. Trước khi chia tay, họ tha thiết mong muốn được nhận Bảo làm con nuôi. Ngược lại, Bảo cũng quý mến hai ông bà chủ nhà như những người ruột thịt. Tuy nhiên, cậu chưa dám nhận lời, định bụng phải về nhà hỏi ý kiến của mẹ rồi sẽ biên thư sang sau. Đặt chân xuống sân bay, dự định sẽ kể mẹ nghe bao kỷ niệm của chuyến xuất ngoại đầu tiên thì cậu nhận ngay tin dữ. Những ngày con trai đi vắng, bà Xuân bất ngờ đổ bệnh phải nhập viện cấp cứu. Vào viện với mẹ, cậu được bác sỹ gọi riêng thông báo, căn bệnh K mẹ mắc đã ở vào giai đoạn cuối khiến Bảo bàng hoàng. Trước lúc lâm chung, bà Xuân cầm tay con trai, nước mắt chứa chan, cất mãi chẳng nên lời. Bà trăng trối con phải bằng mọi cách đi học để cứu rỗi đời mình và mong con sau này, nếu nên người, hãy tìm cách thay bà tạ lỗi với ông bà và quê ngoại.

Minh họa: Diệp Thanh

Mẹ mất, Bảo được bố mẹ nuôi bảo lãnh sang trời tây nhập tịch rồi theo học lên cao. Ông bà ngoại không còn, ký ức làng Tía trong anh giờ là một thế giới mờ xa. Trẻ tuổi, thông minh, lại ham học hỏi nên khá nhanh, anh trở thành hình mẫu thành công của một công dân toàn cầu. Bởi vậy, anh được không ít cô gái là du học sinh con các gia đình quyền thế, khá giả ở Việt Nam và cả các cô bạn tóc vàng, mắt xanh si mê, ngưỡng mộ. Bản thân anh cũng đã thử tìm hiểu vài người nhưng rồi chẳng hiểu vì sao mọi chuyện chẳng đi tới đâu. Cứ mỗi lần ngồi bên một cô gái, hình ảnh xa xưa, thủa ấu thơ nơi làng Tía lại ùa về. Đó là hình ảnh của cô bé Thơm láng giềng, có hai bím tóc và đôi mắt to tròn chẳng hiểu sao cứ đeo bám và ám ảnh trong anh mãi. Đôi khi, Bảo thấy mình thật nực cười, dở hơi, bao nhiêu năm qua rồi, chắc cô bé đó đã lớn, đã lấy chồng, đâu còn nhớ gì về cậu hàng xóm năm xưa.
Vậy mà hình ảnh từ thước phim của cái flycam lướt qua gian quán may duy nhất của làng, lướt qua dáng một người con gái khiến sự sững sờ dội lên trong ngực Bảo. Lẽ nào là Thơm, có đúng là Thơm? Em giờ là chủ quán may của làng Tía quê ngoại anh? Cuộc sống của em ra sao, có an lành và hạnh phúc không? Bao câu hỏi chợt cộn lên trong anh khiến vừa mới về nước không lâu, Bảo lập tức quyết định ngay hôm sau cùng cậu lái xe công ty vượt quãng đường gần bốn trăm cây số.
Lần đầu tiên có một chiếc xe đen bóng lộn chạy trên đường làng Tía bụi bặm, rồi chầm chậm dừng trước hàng may của Thơm. Đám trẻ con trong thôn bám xung quanh tò mò. Một chàng trai cao lớn, sang trọng bước xuống, cặp kính trắng phảng phất điều gì đó khiến Thơm thoáng ngỡ ngàng. Ở đây, chị có nhận đơn hàng của khách nơi xa không? Dạ có, nhưng quán chỉ có mỗi mình em nên em chỉ dám nhận các đơn hàng nhỏ thôi. Tôi muốn cắt may một bộ đồ cho mình, bao giờ có thể lấy được chị nhỉ? Dạ, chậm nhất là một tuần. Nếu anh cần sớm hơn, anh cứ để số máy lại, khi nào xong, em sẽ gọi báo ngay. Bảo nhìn chăm chăm vào gương mặt cô gái, vẫn cặp mắt ấy, sống mũi ấy, chỉ khác giờ đây là suối tóc đen dày, thay cho hai bím tóc ngày xưa. Lẽ nào cô ấy không nhận ra mình? Xin lỗi cô, tôi là người làng đi xa quê nhiều năm, tôi muốn hỏi thăm gia đình một người bạn của mẹ tôi khi xưa. Cô chú Ngữ ở làng giờ ra sao hả cô, cả con gái của chú cô ấy nữa? Giây phút đó, miền ký ức thẳm sâu ùa về choáng hết tâm can Thơm. Bảo, anh phải không? Anh con trai hàng xóm mà cô gắn bó hầu hết tuổi ấu thơ. Người bạn thân thiết nhất của cô, đột ngột rời làng ra đi rồi bặt tin khiến cô bé Thơm năm nào bất ngờ, bàng hoàng, từng khóc hết nước mắt. Giây phút hai cặp mắt rưng rưng gặp nhau, hai hàng lệ dài trào dâng, mười lăm năm cách xa dường như chưa từng hiện hữu với họ.
Khi doanh nghiệp dệt may vốn đầu tư nước ngoài với dàn máy móc và nhà xưởng hiện đại, đứng chân trên khu Mả Đường vừa tổ chức khánh thành, đồng thời xuất lô hàng đầu tiên sang châu Âu cũng là lúc cặp trai tài, gái sắc báo cho làng tin vui. Theo kế hoạch, đám cưới của Thơm với Bảo, vị doanh nhân đưa nhà máy may về  làng diễn ra liền hôm sau. Trước giờ rước dâu, làng xảy ra một việc nhỏ không vui. Nguyên do là công an triệt phá đường dây lô đề của lão Sầm ngoài huyện, thằng Sành là chân rết nên bị cảnh sát bắt giữ. Người làng thở phào, vậy là từ nay dẹp đi được một tệ nạn nhức nhối. Giờ đây, mọi điều đều xoay quanh nhà máy và chuyện tình đẹp như cổ tích của đôi trẻ. Giờ đây, Philip Đình Bảo là niềm tự hào của làng Tía quê hương. Anh đưa cả bố mẹ nuôi từ châu Âu về làng chào họ hàng hai bên, bay ra nước ngoài đàm phán, gặp đối tác rồi lại về làng như con thoi. Với chính sách của doanh nghiệp áp dụng, ngoài việc đền bù thỏa đáng phần đất bị mất, mọi người trẻ trong thôn muốn làm việc ở công ty đều được tiếp nhận, cử đi đào tạo rồi phân về các mảng việc phù hợp. Các chị em muốn trở thành công nhân, được đăng ký học cắt may công nghiệp miễn phí ngay tại làng do công ty ủy quyền cho Thơm đứng ra trực tiếp quản lý, hướng dẫn.
Sau mấy tháng tạm giam rồi bị xử án treo, thằng Sành trở về làng thụ án, giờ nằm nhà im như một con chó ốm. Một buổi tối, Thơm trở về từ khóa đào tạo chuyên gia thời trang tại Thủ đô mà cô mới theo học, Bảo cũng mới từ châu Âu về làng, cặp vợ chồng trẻ quấn quýt bên nhau sau cả tuần trời cách xa. Bất chợt, Thơm vuốt cổ áo chồng nhỏ nhẹ, em có đề nghị này, không biết anh có chấp nhận không. Bảo nhìn vợ âu yếm. Em cứ nói đi, anh sẽ làm bất cứ điều gì, miễn em vui, hạnh phúc. Em nghe chuyện, thấy hoàn cảnh anh Sành giờ thật đáng thương, dù xưa kia đáng giận. Chẳng gì cũng là người làng, anh xem trong công ty có việc gì đó phù hợp, cho người ta một cơ hội được không? Ôi, vợ yêu, thực ra việc đó anh đã nghĩ đến trước em. Anh nghĩ chân bảo vệ nhiều khả năng hợp với kiểu người và tính cách của Sành. Hãy nhắn bảo anh ta cứ thụ án xong, lên công ty phỏng vấn rồi ký hợp đồng em nhé!
   Từ ngày Sành đi làm, tháng lĩnh lương, bỏ hẳn thói rượu chè, nghiện ngập bê tha, năm sau cưới được một nữ công nhân cùng công ty, thi thoảng dúi cho bố vài đồng uống bia, lão Sỏi nở ra từng khúc ruột. Hoan hỷ với sự đời, đôi bận ngồi với đám bà Khia, lão vẫn chưa chừa lôi lại mấy chuyện trước kia. Số giời sắp đặt, tôi với bà Xuân xưa chẳng thể nên vợ chồng được nhưng vẫn cứ dính tý duyên. Bà ấy chắc ở trên giời không hận thằng bạn cũ. Bà Khia quay đi bĩu môi rỉ rả với đám bạn già, lão này giờ còn dám nhắc lại chuyện đó, đúng là chẳng biết dơ, biết ngượng!

Phan Ngọc Chính

(Truyện đăng trên Tạp chí Sông Lam, số 9/chào năm mới 2021)

Leave a Reply