Có hai chiếc nón bài thơ

42
ảnh :Sưu tầm từ Internet

Lên mạng tìm kiếm “nón bài thơ” sẽ cho thấy có hai chiếc nón bài thơ, một của xứ Nghệ, một của xứ Huế. Mỗi chiếc nón bài thơ đều có xuất xứ riêng, mang tâm tình của xứ sở mình, cùng dãi nắng dầm mưa suốt chiều dài lịch sử để làm đẹp giàu thêm cho văn hóa Việt. 
   “Anh gửi cho em chiếc nón bài thơ xứ Nghệ/ Mang hình bóng quê hương/Lợp vào đây trăm nhớ ngàn thương…”. Đó là câu mở đầu bài hát “Gửi em chiếc nón bài thơ” của nhạc sĩ Lê Việt Hoà, phổ bài thơ cùng tên của nhà văn Sơn Tùng. Bài hát ra đời ngay sau ngày đất nước thống nhất và phát trên sóng đài Tiếng nói Việt Nam, Truyền hình Việt Nam, cho đến tận bây giờ. Ngay từ khi mới ra đời, bài hát đã gây ấn tượng cho nhiều người nghe bởi giai điệu mượt mà, lời ca thiết tha, và đặc biệt là chi tiết “nón bài thơ xứ Nghệ”. Nhiều người thắc mắc, sao “nón bài thơ” mà lại của xứ Nghệ. Có người nói xứ Nghệ chỉ có nón Nghệ thôi, còn “nón bài thơ” là của xứ Huế. Lời phản đối còn gửi đến cho cả Hội Nhạc sỹ Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam, tạo nên một vụ “tranh chấp chiếc nón bài thơ” khá căng thẳng mà rất thú vị. Nhà văn Sơn Tùng, tác giả bài thơ, cũng là người con xứ Nghệ, phải lên tiếng giải thích.

 Ảnh: Nghề chằm nón luôn được tôn vinh tại các kỳ Festival nghề truyền thống Huế.

Theo nhà văn Sơn Tùng, chiếc nón Nghệ đã nổi tiếng từ xưa, trong bài ca dao “Em là con gái nhà giàu” đã cho thấy “nón Nghệ” là một thứ lễ vật giá trị mà cô gái đưa ra để thách cưới: “… Sắm xe tứ mã đưa sang/ Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu/ Ba trăm nón Nghệ đội đầu/ Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh”. Từ xứ Nghệ, chiếc nón được đưa vào kinh đô để tiến vua, dần dà trở thành phổ biến ở Huế. Nên ai đó nói chỉ có Huế mới có nón bài thơ là chưa hẳn đúng. Những thông tin này được đăng trên báo Nghệ An ngày 05/06/2009 “Xứ Nghệ có nón bài thơ không?”, và 10 năm sau đó (ngày 13/02/2019) cũng trên báo Nghệ An đã đăng lại bài có nội dung tương tự: “Đi tìm nguồn gốc chiếc “nón lá xứ Nghệ” nức danh một thời”.
Theo cách giải thích của nhà văn Sơn Tùng và lập luận của tác giả hai bài báo, có thể hiểu rằng, chiếc nón xứ Nghệ ra đời trước, rồi theo người Nghệ vào kinh đô Huế. Người xứ Huế đón nhận chiếc nón Nghệ và nâng cấp lên thành nón Huế. Điều đó phù hợp với tiến trình lịch sử. Khi chúa tiên Nguyễn Hoàng vào mở cõi, lập xứ Đàng Trong, đặt thủ phủ tại Thuận Hóa, binh lính và lưu dân theo chúa vào xứ này phần đông là người xứ Thanh, Nghệ. Hành trang họ mang theo ngoài cây gươm, cái rựa, cái cuốc, còn có tay nghề thủ công để tạo ra những vật dụng hằng ngày, trong đó có cái nón đội đầu che mưa nắng. Vì vậy, nếu nói nón Huế có nguồn gốc từ nón Nghệ cũng không sai, nhưng không chỉ nón Nghệ mà còn có cả nón Thanh. Và đó là “nón Nghệ”, chứ không phải là “nón bài thơ xứ Nghệ”.
Bài ca dao mà nhà văn Sơn Tùng dẫn ra chỉ nhắc đến lễ vật thách cưới là “nón Nghệ” chứ không phải là “nón bài thơ xứ Nghệ”. Quả thật, trước khi bài hát “Gửi em chiếc nón bài thơ” ra đời, hầu như người cả nước, kể cả người xứ Nghệ hầu như không nghe ai nói đến “nón bài thơ xứ Nghệ”. Cũng không thấy chiếc “nón bài thơ xứ Nghệ” là như thế nào. Đó chính là nguyên nhân khiến nhiều người, ngay cả người xứ Nghệ, thắc mắc và cho rằng bài hát đã “nhận vơ chiếc nón bài thơ”.
Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn ghi chép địa chí của xứ Đàng Trong trong gần 200 năm từ cuối thế kỷ 16 đến khoảng năm 1776, có ghi rằng: “Thể cách làm nón ở xứ Thuận Hóa có phần khác với nón các nơi. Tại làng Triều Sơn và làng Tam Giáp thuộc huyện Phú Vang, có những thợ làm nón rất tinh tế và mỏng manh”. Như vậy, nghề nón của Huế đã ra đời muộn nhất cũng vào cuối thế kỷ 16, và từ lúc đó tay nghề thợ cũng đã “rất tinh tế”. Tuy nhiên, tại Huế, từ cuối thập niên 1950 trở về trước, không hề nghe nói đến “nón bài thơ”, mà chỉ nghe nón dấu (của binh lính triều đình), nón găng (của phụ nữ quý tộc), nón hai lớp (mỏng mảnh dành cho thiếu nữ, học sinh), nón ba lớp (nón dày, dành cho người lao động), nón đặt (nón làm theo đặt hàng, rất đẹp), nón chợ (hàng phổ thông, bán chợ)…
Theo tài liệu của UBND huyện Phú Vang (Thừa Thiên Huế), chiếc nón bài thơ ra đời vào khoảng năm 1959 – 1960, khi ông Bùi Quang Bặc – một nghệ nhân chằm nón lá ở làng nón Tây Hồ (xã Phú Hồ, huyện Phú Vang) – đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách ép những câu thơ vào giữa hai lớp lá, để tạo thêm vẻ đẹp của chiếc nón lá. Ông Bặc đã ép vào chiếc nón câu thơ lục bát”: “Ai ra xứ Huế mộng mơ/ Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”.  Không chỉ ép thơ, mà các nghệ nhân Huế còn ép vào nón hình ảnh cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình, cửa Ngọ Môn…
“Chiếc nón bài thơ xứ Huế” ra đời từ đó và lưu truyền đến hôm nay. Nó nổi tiếng đến mức, cứ nghe “nón bài thơ” là người ta mặc định “của xứ Huế”. Đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều người cho rằng chỉ có “nón bài thơ xứ Huế”. Nhưng “nón bài thơ xứ Huế” ra đời vào năm 1959-1960. Trong khi bài thơ “Gửi em chiếc nón bài thơ” của Sơn Tùng sáng tác vào năm 1955, in lần đầu tiên trên một tờ báo của sinh viên, đến năm 1960 được in lại trên báo Thống Nhất, rồi được đưa vào tập thơ chọn lọc “Bàn tay yêu thương” của nhà xuất bản Lao Động. Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1975, nhạc sĩ Lê Việt Hòa phổ nhạc và bài thơ này mới được nhiều người biết đến.
Từ những thông tin trên đây, cho thấy có một “chiếc nón bài thơ xứ Nghệ” ra đời từ bài thơ của Sơn Tùng, nhưng đó là “chiếc nón bài thơ” trong thi ca, và sau đó là âm nhạc, chứ trên thật tế không có chiếc nón nào là “nón bài thơ xứ Nghệ”. Còn chiếc nón bài thơ xứ Huế là chiếc nón của nghệ nhân, nó được tạo thành bởi những chiếc lá hái từ rừng, từ những thân tre vót nên chiếc vành, từ bàn tay người nghệ nhân tài hoa biết ép vào đó câu thơ để làm nên chiếc nón “rất tinh tế và mỏng manh” như tâm hồn Huế.
  Có hai chiếc nón bài thơ, và chiếc nón nào cũng rất đáng nâng niu, trân trọng. Mỗi chiếc nón bài thơ đều có xuất xứ riêng, mang tâm tình của xứ sở mình, cùng dãi nắng dầm mưa suốt chiều dài lịch sử để làm đẹp giàu thêm cho văn hóa Việt.

MINH TỰ

(Bài đăng trên Tạp chí Sông Lam, số 8/ Tháng 8+9/2020)

Leave a Reply