Chiếc gáo dừa

136

Tạp văn

Một lá thư, một tấm áo, một chiếc khăn choàng cổ, một chiếc chậu thau đồng…, có thể với ai đó là những vật bình thường, nhưng với ai đó lại là “báu vật” bởi nó mang dấu ấn rưng rưng của những tháng ngày buồn, vui đã qua đi.
Ban biên tập Tạp chí Sông Lam xin giới thiệu tới bạn đọc một tạp văn của cô giáo miền núi Nghệ An kể vể vùng trời kỷ niệm của cô qua hình ảnh chiếc gáo dừa- một “báu vật” còn lại sau bao nhiêu năm tháng đời người.

******

Về thăm nhà đã mấy ngày, hôm nay mới sắp xếp lại đồ đạc trong phòng. Tôi đang gấp quần áo, gom những bộ đồ cũ không dùng đến, gói lại cẩn thận để hôm sau lên cho các bạn nhỏ trong bản, thầm nghĩ các bạn ấy sẽ thích lắm. Bất chợt, cậu con trai lục lọi trong bếp ngoại, cầm một đồ vật phủ đầy hóng bếp, đen kịt ra hỏi mẹ: 

– Mẹ ơi! Đây là cái chi rứa ạ?

Tôi nhìn con trai, mỉm cười đáp:

– Đây là cái gáo dừa!

Con trẻ lại tò mò hỏi: 

– Gáo dừa để làm chi ạ? 

– Gáo dừa dùng để múc nước từ ấm ra mỗi khi nấu xong con ạ. Cái ấm cao cổ xưa này. Tôi chỉ tay vào ấm nước của ngoại, chỉ có gáo dừa mới múc được. 

                                         Chiếc gáo dừa. Ảnh: Sưu tầm

                                                                            * * *

Tôi ngồi nhìn chiếc gáo dừa con đặt trên chiếu hồi lâu, cả một miền trời ký ức tuổi thơ ùa về trong tôi. Ngày tôi bằng tuổi con trai tôi bây giờ, gáo dừa là một đồ vật được sử dụng phổ biến khắp làng. Đã hơn hai mươi lăm năm nay, không ai còn dùng đến nó nữa. Nhà tôi đã được xây mới khang trang, vị trí bếp có dịch chuyển nhưng mẹ vẫn dành một góc trên gian bếp để treo chiếc gáo dừa, mẹ luôn cất giữ nó như một báu vật. Ban đầu tôi chỉ nghĩ, đó là vì mẹ vẫn thích dùng nó. Hóa ra, cứ nhiều lần như thế mẹ vẫn múc nước bằng gáo dừa, tôi cảm giác mẹ làm thế để màu nước chè ngấm vào, chiếc gáo dừa luôn được bóng mượt sau mỗi lần sử dụng, để không vì bị lãng quên mà trở thành vật vô dụng mốc meo. 

Tôi nhớ như in quá trình mẹ tự tay làm nên chiếc gáo dừa này. Thực ra, nó chẳng phải là vật dụng kỹ thuật gì cao siêu, mà sự có mặt của nó thành thói quen của người dân quê tôi. Có thể từ lúc mẹ tôi mua quả dừa già ngoài chợ, về dùng hết nước và cùi để đồ xôi, còn lại là phần vỏ đá. Cũng có khi mẹ đến một nhà nào đó nhiều dừa xin quả khô, đẽo hết vỏ ngoài, bóc hết xơ,  cẩn thận, tỉ mỉ để giữ hình dáng tròn nhỏ, thật khéo không để phần vỏ của quả dừa bị nứt vỡ trong quá trình đẽo gọt, mới có thể làm gáo dừa đẹp. Để biến phần vỏ của quả dừa thành chiếc gáo dừa xinh xắn, mẹ phải dùng cưa nhẹ nhàng theo một đường tròn nhỏ trên miệng quả dừa, đến khi nó rơi ra khỏi quả. Sau khi dùng con dao nhỏ lấy toàn bộ cùi dừa ra, mẹ tiếp tục gọt trơn cả bên trong và bên ngoài phần vỏ đá ấy. Vỏ dừa chưa khô hẳn, mẹ khoan tạm hai lỗ nhỏ hai đầu, rồi để khô trong bóng râm từ ba đến bốn ngày liền, nếu trời mưa, mẹ sẽ đem vào hong trong gian bếp. Lúc trẻ thơ đầy tính tò mò không rời mắt khỏi từng công đoạn của mẹ làm, đến nỗi ghi nhớ thuộc lòng. Khi vỏ dừa đã khô mức ổn định, mẹ vào gian bếp, lấy ra cả một thanh tre già nhỏ phủ đầy khói bếp lâu ngày đen kịt. Đó là thanh tre phần gốc thẳng già, mẹ đem vào hong bếp, để khi rảnh mẹ sẽ ngồi vót đũa. Mẹ vốn khéo tay, hay làm. Lúc rảnh rỗi, bên ấm nước chè xanh vừa trò chuyện, vừa vót đũa, mẹ vót một cái cán gáo dừa thật tròn, đẹp. Phần cán ở phía tay cầm có độ dài và đường kính to hơn phần cán trong gáo, tạo sự cân đối khi sử dụng, đủ dài để múc nước trong chiếc thùng hay trong chiếc ấm cao cổ mà mẹ tôi vẫn dùng chuyên để ủ chè xanh. Tôi luôn trầm trồ khi nhận thấy lỗ khoan để tra đầu cán vào, mẹ đo rất khớp, nên không bị rò rỉ nước ra ngoài  khi múc.

Bát nước chè xanh nóng hổi được múc ra từ cái gáo dừa của mẹ. Ảnh: Sưu tầm

Mỗi sáng mai, chưa có điện, trong con mắt kèm nhèm dở ngủ, tôi dậy sớm cùng mẹ để chuẩn bị đi học. Ngồi bên bếp lửa, tôi vẫn quan sát mẹ dùng gáo múc nước chè xanh. Có lẽ vì thói quen đó mà trong suốt tuổi thơ tôi, mỗi khi mẹ vắng nhà, tôi rất tự tin dùng gáo dừa múc nước nóng, nước chè xanh. 

Chiếc gáo dừa không đơn thuần chỉ để múc nước chè xanh mà còn được dùng để múc nước rửa mặt, múc nước từ thùng ra. Chiếc gáo dừa ngấm đẫm màu chè xanh, ngấm theo thời gian, nên màu trắng ngà đã chuyển dần sang đen sẫm. Đó là cả một miền ký ức tuổi thơ của tôi khi được mẹ giao cho ở nhà nấu ấm nước chè, màu nước phải thật xanh và thơm ngon đậm đà. Đó là món quà tôi dày công chỉn chu để trưa về đi quanh xóm mời bà con uống nước. Ngôi nhà nhỏ rộn vang tiếng nói cười. Tự mình cảm thấy vui vui trong lòng.

Tôi thầm nghĩ, mình may mắn khi lớn lên trong hoàn cảnh ấy, thiếu thốn nhiều nhưng chín chắn, biết làm nhiều thứ nhờ mẹ chỉ bày, từ việc làm nên chiếc gáo dừa, hay nấu một ấm chè xanh thật ngon. Khi về làm dâu miền biển, mỗi lần có công việc gia đình, mẹ chồng rất tin tưởng mỗi khi giao cho tôi chuẩn bị ấm chè xanh, từ việc chọn mua chè đến việc nấu nước chè. Đơn giản từ một việc nhỏ ấy thôi cũng đã giúp tôi hiểu ra nhiều điều trong cuộc sống!

                                                                * * *

Tôi đã là người mẹ, vẫn không quên món xôi dừa, làm đúng kỹ thuật và hương vị như mẹ vẫn hay làm cho các con, đổi món hàng ngày cho cả gia đình. Tôi cũng đã cất công đẽo quả dừa thật khéo, tận dụng phần vỏ đá thành cái gáo dừa cho con làm đồ chơi. Con trai tôi thích thú với gáo dừa, thực sự mới lạ đối với những đứa trẻ vốn quen trong bát gốm hay gáo nhựa để múc nước. Tôi chợt nhận ra, ai cũng có thể tận dụng vỏ quả dừa để chế tạo ra những đồ dùng tiện ích, giảm lượng rác thải từ đồ nhựa, góp một phần nhỏ bảo vệ môi trường. 

***

Giờ đây, cứ mỗi bận con cháu về, thỉnh thoảng mẹ vẫn đưa gáo dừa ra để dội nước chè xanh trong ấm. Việc làm của ngoại gợi nhắc quá khứ bao vất vả, thiếu thốn cho con cháu biết trân trọng hơn giá trị cuộc sống hiện đại hôm nay. 

Nguyễn Thị Thập

                                                                                            

Gửi phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.